1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

0113.18 - mabu_af đang soát

7/3/16
0113.18 - mabu_af đang soát
  • PDF
    GoogleDocs
    :rose:
    7. Nguyễn Cư Trinh: quê ở Thiên Lộc, tỉnh Nghệ An, sau đán ở Thừa Thiên và đán lằm việc làng ở An Hòa, huyện Hương Thủy. Ông là con ủt.cùa ông Nguyễn Đãng Đệ, thông minh hiếm có, lúc mới 11 tuổi mà đẫ có khả năng về văn học và có thể làm những bài thơ khá hay. Ông đậu được Hương cống cuộc thỉ năm Canh Thân (1740) và làm tri phủ ở Triệu Phơng (" và sau đó lẽn sở thanh ha. õng là người có tinh thần của một vị thanh tra và không bao giờ ngần ngại chỉ trích mọi sai trái bất chấp đương sự ở cương vị nào.

    Mùa hè Giáp Tỹ (1744) Thế Tổn lận ngôi (ỉl Nguyễn Cư Trinh được giao trách nhiệm nghiên cứu và đề ra các phương thức ngạch hành chính; đến năm Canh Ngọ (1750) ổng lẽn chức Tuần phủ của tỉnh Quảng Ngãi và ông đã nhờ giỏi giao thiệp, kiên trì đã quy hàng được thổ dân Đâ Vách. Sau được chỉ định làm Ký lục của BÓ Chánh ông lo việc bố phồng đồn ải và các trạm phòng thù chống quân Trịnh; khi ông đương chức cương vi đó, phía Trịnh chưa có hoạt động phá hoại gì. Sau ồng lại lên chức Tham .mưu 1,1 để đánh quân Cao Miên, và sau thắng trận ấy mở rộng bờ cõi cho đất nước. Khi trở về ỉằm Thượng thư Bộ Lạị ông nôi tiếng chống các quan chức ăn hổi lộ mà không sỢ thù oán và ngại sự trả thù của họ. Sự trũng thực của ỡng đã làm cho triều đỉnh phải kính nể kể cả các vị đại thần, ông có một tài năng vô song trong cai quản hành chính và rất chặt chẽ trong lý luận khỉ ông nhận xét một vấn đề gì và khi ông đã quyết định thì thật ĩà công lý. Khi được giao cho chiến dịch đánh vào Nam, ông rứt lui cắc giới hạn và bình định được biên giới. Trong địp này và các dpi về sau, ông đã có nhiều chiến công trong bao gian lao khó nhọc để đạt được tiếng tâm lẫy lừng, ồng thọ bệnh và mất vào năm Đinh

    í” Trong tỉnh Quảng Trị,

    (ỉl Người chép xữ muon nói, Thế Tôn đã lên ngôi vì vị chúa này đã trị vì từ 6 nam (1758 - 1765) nhưng đén năm này ông mới lắy hiệu Hoầng đế.

    Quan chức ngang bậc với Bố Chánh.

    Hợi (1767) thọ được 52 tuểì. Thụy hiệu: Trung thần đã tham gia dựng nước và được nâng lên bậc trụ triều đinh, dãi vàng và tỉm có ghỉ thụy hiệu Vỉnh Lộc Đại phu, Đại thần phụ trách hành chính, cố vấn quốc gía(li Chức lễ: Văn Địnha'.

    Đen niên hiệu 20 Minh Mạng (1839) khi xem >§t lại cấc công lao của Cư Trinh, vua đã phong thụy hiệu mới: Trung thần xứng đáng có cõng dựng nước vôi chức "Vinh Lệc Đại phu", phụ trách nhân sự vội chức lễ: Vãn Khấc (ỉ| với tước Nam tước Tân Nỉrih {4). Bài vị đặt thờ d Thắi Miếu.

    Xin lỗi độc giả, tộì đã nêu lẽn một cách quá khô Khạn chí các danh vị, chức vụ, và tưởc vị. Tiểu sử của các Danh nhân Àn-iiam rất ít chuyện kể vì vậy thà tôi chấp nhận một dịch thuật nghiêm túc còn hơn là làm cho hoa hòe tác phẩm bằng những ký sự phóng đại.



    Yăn:â đây nghĩạ là CÓ kiên thức rộng rãi về chinh trị đế giải tiiícỉi các hiện tượng trong thiên nhiên. Định: rất nhanh trong các chọn lựa trong hoàn cảnh của sự kiện bặt buộc,

    Khác: nổi bật, xúng đáng.

    ^ Khai quốc cõng thần Vinh Lộc Đạì phu Hiệp biện đại học sĩ Lãnh lại Bộ thượng thu Thụy vãn khác Phong tâm Mình Hầu.

    * Trong bài trước tôi ghi 16 bài vị đặt trưốc ở Thái Miếu. Nhưng chí còn 14 vì hai cái bãi vị sau đến niên hiệu 20, 21 Minh Mạng mới đặt.
















    ĐẠI CUNG MON

    VÀ CÁC ĐIỆN Nối TIẾP

    Tư liệu lịch sử1,1

    L. CADIÈRE

    Hội truyền giáo nước ngoài Parỉs

    t

    Một tập hợp cung điện, đinh thự, công viên, đất trổng và một sổ hồ ao hình thạnh Kinh thành Huế, chia làm ba vòng gọi là thành, Lũy thành vồng ngoài theo tài liệu chỉ Kinh Thằnh. Hoàng Thành nằm ở giữa hai thành là Tử cấm Thành là nơi vua ớ.

    Đại Cung môn là cửa cùa cung điện chính mở về phía nam, thành thứ ba là quan trọng nhất, vì qua cửa đó vua đi từ nơi tư dinh ra hay vào trong những ỉức tế lễ và đại triều; phía- nam là' mặt quan trọng cùa Kinh đổ hay Đại Nộỉ.

    Lịch sử của cửa này có liên quan mật thiết với lịch sử của Cung điện nằm trước hoặc sau trẽn trục lộ của Hoàng cung. Sau khi qua cửa Ngọ Môn là cửa lớn chính phía Nam đi vào Kinh thành, trước mặt là Điện Thái Hòa và có một cônj> trình bao quanh Đạt cung Mồn. Phía sau là Điện Cần Chấnh ; đến đây khách tham quan phâi dừng nếu không có phép vào Điện. Đằng xa là các biệt thự của vua

    " Bài đục tại cuộc họp 29 tháng 7 năm 1914.

    ở, Điệii Càn Thành rồĩ đến Cung Khồn Tháii2> . Đây lai lịch của các công trình chủ yếu nhất là cái điện trước Đại Cung Môn mà tôi sẽ


    Hình 55: Địa bâri d|a íý hưởng tốt dạ xây dựng kính đô,

    Ghi chú Á; Vị trí điện Thái Hòạ - BCDE - Vòng thành Cung diện - adsde Lũy thành Kỉnh thành Huế - AB trục của Đại Nộỉ của Kỉnh thành


    Vì cho dễ hiểu nẽn tôi phải dùng các từ sạu đây để chỉ các cồng trình trong Đai Nội; Lầu; Belvédère; Miéu: Temple; Các: Pavillon; Thảnh; Cité, eueemte; Vũ; Salle; Đàng: Maison, Kinh thành: Cité capitale; Viện: Cabinet; Thự: Sạlọn; Hoàng thành: Cité impériale; Lang: Galeries; Đài: Terrasse; Tử Cẩm Thanh: Cité pompre interdite; Mòn: Porte; Phòng môn: Portique; Cung thành: Cité de la Résidence; Quyết mõn: Entrée; Điện: Palais; Cung; Résidence; Giáp môn: Porte latérale.



    ij, — Man do fa Utadeilt tie Hue doimant rtroplacamtfii de ipiehfOW

    afietfos tttfHfctif du Vfanx HUB.

    tPfao au i/iS.wo (ire de fa Carle ties fletfas de rAnnam dress« per

    fe Sernce fieogrrtpliii|«c* Alai igog),

    fjfcESDC: r. Ctfutetaien franchise d« iSfti i iSffS* — *i ('onreiiioti fraiicato luioette* — .>, l*e Sleet JMm-TIiira-TUiie. — i. Le Cu*iff*Qtjnn (IKJIOI du Ambawa- tfcnrsh — 5- i * TfamtiR-ftae* — fi. I A Prison KMm*Ouvn|f. — j. I/aitcienite prison TrsWPfiu (ilciroile *tr% liiftj). — S, I.a ttoovellt prison Tr£n*ttii (enjotfrd'bni

    dcCtuitai. —* g. U Irilntnl TsHifHi&p; « MI* Peel *Ji Un^libo fFoM Slid)* —' u. Pom fl^n^-dSc oo Ke-T«si iHirvdor Xi, — «T., Porte TAy*ftlc BU d’An*tlta / iHtttufor ID* — »i* Pono Ownir-ldr {Jfirador Hi- * Port* nforff-XA«i on Tfatirng-Tur (Aiiratair V1H)L — o. Porte Oiioii-Himt; on Udn£-fb (Jltrador IX}* — t(S-*i?. Casernes do * 5*1 anu

    NHỮNG NGƯỜI BẠN cố ĐÔ HUẾ

    s

    Sự tích vùng này của.Kỉnh Thành có thể tóm tắt trong hai đoạn vãn trong tập Địa lý Duy Tân.

    Tài liệu 11U "Kinh Thành". Bắt đầu niên hiệu Gia Long, vàó vùng giữa cũa mật trước là đài Nam Quyết. Phlạ trên cí) người ta dựng điện Càn Nguyên. Bên trấi và bên phải, có haỉ cổng gọi là Đoạn Tả vầL Đoạn Hữu/3’

    "Niên hiệu 14 Minh Mạng (1833) người ta thay bằng năm cửa. Cửa giữạ gọi ĩằ cửa Ngọ Môn. Ngộ Môn có hai cửa hai bẽn trái và phải và hai cửa vào bên trái và bên phảiw ỡ trên dựng Ngũ Phụng Lâu"

    Tàỉ liệu II ‘5’ "Tử Cấm Thành ... cộng phía nam gọi là Đạỉ Cung Môn có treo biển của cung điện Càn Thành. Phía trưỡc là Điện cần Chằnh xẫy vào niên hiệu 3 Gia Long (1804) phải sừa lại vào niên hiệu 14 Thành Thái (1899) và lắt gạch hoa...

    Phía bắc Điện Cần Chấnh lằ Điện Càn Thành. Thêm vào đó, ở phía bắc, là Cung Khôn Thài....

    Khảo sát nghiêm tủc;

    Tứ Cấm Thành vào niên hiệu 3 Gia Long (1804) người ta vẽ sơ đồ và xây dựng, đặt tên là Cung thành.

    "Đên niên hiệu 3 Mình Mạng (1822) đểi tên vạ đặt tên như ngày nay.

    ở giữa mặt dưới của Cung Thành, vào đầu niên hiệu Gia Long là Điện Thái Hòa. Bên trái và bên phải ỉà hai cửa Tả Túc và Hữu Túc11’,

    Đến niên hiệu 14 Minh Mạng, người ta chuyển Điện Thái Hòa xuống Nam một đoạn và bô các cửa Túc để xây Đại Cung Môn.

    Phía ngoài Cung Môn, ở bên đông và bên tây người ta đựng hai công Phòng Môn là Nhựt Tinh bên đông và bên tây là Nguyệt Anh (trước kia là Nguyệt HoaU) ; vào đầu niên hiệu Thiệu Trị (1841) mới thay).

    Hai cung Càn Thành và Khôn Thái được xây dựng vào đầu niên hiệu Gia Long.

    Trong Đại Nội lóc đầu chưa đặt tên cho cung. Đen niên hiệu 14 Minh Mạng (1833), người ta lại tuân theo luật và công dụng mà đặt tên lần đầu cho các điện. Trước Điện Trung Hòa là Cung Cằn Thành và tất cả các cung sau Điện Trung Hòa là Cung Khôn Thái".

    Bây giờ chúng ta đi vào chi tiết các phần tử của ghi chép lịch sử này:

    Chính vào đầu niên hiệu Gia Long mổi bắt đầu vẽ sơ đồ và đặt móng cho Kinh Thành và Tử Cấm Thành, lúc đó gọi là Cung Thành. Các sử bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào thời Gia Long khẳng định việc đó.

    Tài liệu ỈII (ĩV'Đến năm Giáp Tý, niên hiệu 3 Gia Long, vào mùa hạ tháng 4..., ngày Kỷ VỊ <9 thắng 5 năm 1804) người ta xây dựng Cung Thành và Hoàng Thành.

    Cung Thành chu vi ỉ à 3Ơ7 sào 3 thước và 4 tấc (lũy thành) bằng gạch chiều cao 9 thước 2 tấc và dày 1 thước 8 tấc. Trước là Tả Túc và Hữu Túc

    "Hoàng Thành 4 mặt đo được 614 sào. Thành xây bằng gạch, cao 1 sầo 5 thước và dày 2 thước 6 tấc. Các hào vè bẽn trái, bên phải vặ phía sau đo được 3 mặt là 464 sào 1 thước và ở trước là cửa Đoạh bên trái và bên phải.

    Lệnh truyền cho ông Nguyễn Vãn Trương và Lê Chất thỉ công. Họ tăng lương cho các đơn vì quân độị làm công trình này và họ cỏn bầo khen thưỏng ngươi nào tiến nhanh và phạt kẻ nào làm thậm chạp.

    Tõi chưa nói đến hai lũy thành ngoài của Kinh thành vè xây đựng hai ỉớp thành trong Sử Giữ Lơng vì nó không liên quan gì đến vấn đề này. Tôi chỉ nhắc lại là h'a( lớp thành ấy đã có từ năm 1804, công trình của vua Gia Long và tội cũng nhắc thêm vài chi tiết vè phía nam sau này thôi. Những lácb thước trong Địa lý Dưv tân cũng gần giống như những điều mà chung ta vừa thấy ghi chép trong Sừ Gia Longin : có những điểm khác nhau lẩ sai sót một vài mét hay vài tấc chứng tỏ tác giả cua cuốn sau không chép lạỉ nguyên vãn của cuốn trước, đây là những điều thường đã xảy ra trong các tác giả An-nam và do đó chính hai lớp thành này là do vua Gia Long xây dựng. Một chứng cớ nữa là không có tài liệu nào nói đến sự tu sửa lại hai lũy thành ấy15’ . Như vậy hai cửa Đoạn để đi vạo Hoàng Thành về phía



    nam trước kia, chính lã chỗ ngày nay cua cửa Ngọ Môn. Chúng tôi có thể lấy từ tác phẩm Địa lý Duy Tân (Tài liệu I) nhưng đó là điều hiện ra rõ ràng hơn từ một đoạn của Tuyển tập bộ Luật.

    Tài liệu IV ai : ở giữa của mặt trước Hoàng Thành đó là Điện Càn Nguyên bên trái và bên phải là cửa Đoạn... Hơn nữa (vào năm 1833) và trên nền cua Điện Càn Nguyên người ta thay đi và xây cừa Ngọ Môn và lầu Ngũ Phụng bỏ cửa Đoạn bên trái và bên phải,

    Vì vậy, ở chẽ Ngọ Môn hiện nay, theo tài liệu trước, là đài đi vào cửa Nam, Nam Quyết Đài (Tài liệu I) và trên đài đó, theo tôi phải bỏ chữ một ít vè phía sau, đó là Điện Càn Nguyên (theo tài liệu I - IV) và hai bên điện ấy là cửa Đoạn (tài liệu I - III - IV) và chính đó cũng như hiện nay là chỗ giữa mặt nam của Hoàng cụng.

    . Nhưng cần chú ý là Sử Gia Long (tài liệu III) khỉ nói đến việc xây dựng Hoàng Thành, không ghi Điện Càn Nguyên mà các tài liệu sau này có ghi. Sự thiếu sót đó không nhắc đến là rất lạ. Có một bàỉ khác trong Tuyển tập bộ Luật giải thích cho ta rõ, nhưng đặt ra một vấn đề khác.

    Tài liệu V (ì}: "Vào niên hiệu thứ 5 Gia Long (1806) người ta xây dựng Điện Càn Nguyên. Đến niên hiệu 14 Minh Mạng (1833), theo dụ của vua, người ta thay đổi và gọi Cung Càn Thành”.

    Điện .này khồng xãy củng một lần với hai vòng thành trong, mà sau đó hai năm, dù sao đi nữã tôi cũng khổng tìm thấy năm xây dựng trong Sử Gỉa Long,

    Tồi chỉ nhắc qua tiểu sử của điện này vì các chỉ dẫn mà chúng tôi có đến năm 1833, khi mà Điện Càn Nguyên được đổi tên là Càn

    Thành Cung. Nhưng về sau Càn Thành Cung không phải chi là một điẽn,t mà là một tông thê điện nằm phía sau Đậí Cung Môn. Thổi chúng ta hãy tạm gắc về sau vấn đề này chờ khi chúng ta có đù yếu tố trong tay.

    Chúng ta còn về phía nam một vị trí mà câc công trình được sửa* đổi lại dưới thời Minh Mạng vào năm 1838 và cố định từ đố đến nay.

    NỂu vè phía cạnh bắc một vị trí cố định thi cũng phải đến tận càn Chánh Điện.

    Điện ấy được xây dựng dưới thờỉ Gia Long.

    Tài liệu VI "Năm Tân Vị, niên hỉệu 10 Gla Long, vào tháng 5 ngày Mậu Dần (21 tháng 6 nãm 1811) người ta xây dựng nguy nga Điện cần Chánh \

    Tài liệu VII "Năm Tân VỊ, niên hiệu 10 Gia Long vào tháng 7 (19 tháng 8 đến 17 thắng 9), hai điện Trung Hòa và cần Chánh đã làm xong. Người ta thưởng cho quẫn lính và nghệ nhân 7500 lạng hằng tiền. Các quan được nhận thêm hai tháng lương bằng tiền".

    Điện Trung Hòa mà chúng ta sẽ biết sau đây xây dựng sau Đỉện Cần Chánh vài ngày, vào ngày Kỷ Vỉ tháng 4 cùng nãm, ngày 2 tháng 6 năm 1811 ,?l.

    Tuyển tập bộ luật cho thấy việc xây cất Điện Cần Chánh cũng cùng năm 1811 vào niên hiệu 10 Gia Long *■*'. Nhưng Đỉa lý Duy Tần ,S) ghi niên hiệu 3 (1804), trong St? Gia Long lại không tháy ghi ngày xây đựng.

    Cũng không cần thiết làm rõ vấn đề này nữa. Chúng ta chỉ càn nhớ là Điện cần Chánh chiếm vị trí này từ thời Gia Long đật vào năm 1811 hoặc có thể từ năm 1804. Được sửa chữa và lợp mái lại vào niên hiệu 8 Minh Mạng (1827) lợp lại mái vào niên hiệu 3 Tự Đức (1850) i:' và trang trí rất đẹp vào niên hiệu 11 Thành Thái (1899)(?(\ nhưng v| trí ấy không bao giờ thay đổi, và toàn bộ sườn kiến trúc có lẽ cũng không thay đổi nốt.

    Chính ở giữa hai điểm cổ định ấy, về phía bắc của điện cần Chánh và phía nam cửa Ngọ Môn là Đại Cung Môn mà các công trình ấy được chuyển đi để xây đựng cố định Điện.

    Sự sắp xép lại quan trọng đó Địa lý Duy Tân cho ta biết (trong tài liệu I và II) vào niên hiệu 14 Minh Mạng (1833) và dưới đãy là sử liệu của vị vua ấy nói lên như thế nào.

    Tài liệu VIII Năm Quý Ty, niên hiệu 14 Minh Mạng, vào mùa xuân tháng giêng ngày Canh Dần (9 tháng 3 năm 1833) người ta xây đựne Điện Thái Hòa, Đại Cung Mồn và cửa Ngọ Môn.

    Người ta cử 10 nghìn lính tráng của Kinh đô để làm công trình này và lệnh cho Lê Đăng Dinh chức Thự hiệp biện Đại học sĩ và thự thống chế Nguyễn Tăng Minh và Hồ Vãn Khuê thự Thống chế cùng với Lê Văn Đức thự Thượng thư thi công chung. Cấc Thự Bộ Cõng là Nguyễn Trung Mậu và Đoạn Văn Phú có bốn phận hỗ Ưự.

    Trong những năm đầu phục quốc (dưới thời Gia Long) người ta cũng xây Cung Thành, Hoàng Thành và người xây cất dinh thự, cung điện ở phía giữa mặt trước của cung 151 là điện Thái Hòa. Hai cửa bẽn trái vạ phải gọi là Túc tả và Túc hữu.

    4

    Phía giữa của mặt trước của Hoàng Thành là điện Càn Nguyên vạ hai cửa bên trái và phâi gọi là Đoạn tả hữu.

    Đến thời gian nói trên (1833) ngườỉ ta dời Điện Thái Hòa và xây lại dịch về phía nam một chút, và cũng giữ nguyên chiều cao, kích thước như trước, ở dưới các tầng cấp là đan bệ - sẫn rồng (" mà dưârị cùng là lối đi đến Long Trì (phòng ngai vàng). Trên hồ Thái Dịch Trì ở dưới lổi đi người ta xây cằu Trung IDạo Kièu. ở hai đầu của cầu có hai cửa cột bằng đồng, có chạm trổ người ta dùng đồng đỏ và thau tỷ lệ 4 phần và 6 phần trộn lằn với nhau, ở phía giữa của mặt trưởc Cung thành người ta xây Đại Cung Môn (một cửa ồ giữa và hai cửa haỉ bên) và phía bắc của cửa ấy người ta nối tiép hai hành lang phía trái và phải(ĩ> nối với Tă Vu và Hữu Vu của Điện cần Chánh. Trước các bậc cửa ấy có một khoảng cách độ 2 sào vài thước thì đến các bậc phía bắc của Điện Thái Hòa. Hai bên cũng có đặt hai cửa: cửa bên trái là Nhật Tinh và phía bẽn phải là Nguyệt Ba (J' (sau này đối thành Nguyệt Anh)151.

    ở giữa mặt trước của Hoàng Cung người ta xây cửa Ngọ Môn (ờ giữa một công và hai cửa bên trái, 2 cửa bên phải như vậy là 5 cửa ca thảy). Ngoài cửa giữa, hai cửa bên trái và 2 cửa bên phải người ta đặt các xà ngang và cột dọc bằng đồng: các đà gồm 58 chỉéc, bằng đồng đổ và thau pha với tỷ lệ 3/7 còn các xà độ 12 chiếc pha với tỷ lệ 4/6, Tất cả các chiếc đó đều có ba tấc cao và hai tấc rộng. Phía hai bên trấi, phải người tạ xây hai vòm.

    111 Đan bệ để chỉ những nền sân chỗ quan lại đứng trong lê đại triều. m Trong điện ồ Bắc Kinh cũng có các tên này và các tên đều bắt chước tên điện Bắc Kinh.

    m Tả hữu Dược lang

    (4) Trong Địa ìý Duy Tân tên Nguyệt Hoa chữ viết giống nhau.

    Theo Địa lý Duy Tân là niên hiệu đầu Thiệu Trị (-1848).

    Phía trẽn cửa có lầu Ngũ Phụng

    HỒ trước cửa là hồ Kim Thủy Trì.Trên hồ người ta xây càu Kim Thủy (ba cầu, một ở giữa và hai bẽn hai cái).

    ở các phiến cẩm thạch của Long Trì, trẽn lối đi, trẽn Thái Dịch Trì, cầu Kim Thủy và phía trên cửa Ngọ Môn người ta có đặt các lan can (ở đâu cũng dùng toàn là ngói tráng men có nhiều màu sắc).

    Quang cảnh, và cách bố trí các công trình đó đều đày vẻ uy nghi và người ta theo đúng luật, tập quán của thời đại của Kỷ nguyên Thái Hòa.

    Vua nhận tháy công việc đề ra là rát quan trọng và nhọc nhằn, nên quyết thanh toán công lao cho quân lính và vua cũng quy định giờ làm việc, giờ nghĩ ngơi: mỗi ngày làm việc 1ÛC bình minh và đến đầu giờ Ngọ (11 giờ sáng) là nghỉ việc, bắt đầu lại vào giờ Mùi (ỉ giờ trưa) và nghỉ công vào lúc hoàng hôn. Vua còn giao cho 5 nhân viên của Ngự y sử dụng thuốc của nhà nước rồi đán tận cõng trường để châm sóc cho những người đau ốm.

    Vua cũng hỏi vị Thự Bộ Công Nguyễn Trung Mậu: “đến nay nguởì ta có chọn hướng nam để xây dựng Kỉnh đô phải không?”, ông trả lời: ‘Tâu bệ hạ nếu không được hướng tỷ qua ngọ thì cũng phải theo hướng quỷ đén đinh hoặc nhâm qua bính hay cũng phải hướng càn qua tốn tất cả đều phía nam”.

    Vua nói lại: "Năm nay là Quỹ Ty: không may vào vùng Đông $frấng lợỉ ở vùng Nam. Công trình xây dựng Kinh đô là có thể tiến Hành được và sẽ thành cồng mỹ mãn".

    Trước khi đì xa hơn, chúng ta phải giải thích một vài kiến thức địa lý sơ yéu về câu trả lời của vị phụ trách công trình.

    Trong địa bàn Trung Hoá mà người An-nam sử dụng để chọn vị trí thuận lợi, cái vòng tròn đầu của kim chỉ nam chia ra làm 8 hộc,

    mỗi hộc chứa một quẻ của Phục Hy gọi là Bát quải, Khi địa bàn đứng yên, hộc phía bắc chứa quẻ khôn tượng trưng cho đất gồm có ba đựồng đứt. Phía đướỉ là hộc phía nam chứa quẻ càn tượng trưng cho trời, cho sự hoàn chỉnh, gồm có ba đường đầy.

    Neu chúng ta qua vòng tròn thứ ba đồng tâm chúng ta thấy trong cái hộc khôncàn chia ra ba hộc phụ tương ứng với nhau. Hộc phg ở giữa phía trên có chữ và phía dưới chữ ngọ như vậy đường tí-ngợ là đường bắc-nam. Hộc phụ bên phải ở trên có chữ quí và hộc phụ dưới bên trái, tương ứng ỉà chữ đỉnh đường quí-đỉnh cho ta thấy hướng bắc-đông bắc, nam-tây nam. Sau cùng ỉà hộc phụ bên trái phía trẽn và hộc phụ bên phải phía dưới có hai chữ nhầmbỉnh và đưống hướng bắc-íây bắc, nam-đông nam. Cũng trong vòng tròn thứ ba ấy, chứng ta bỏ một hộc bên trái phía trên và bên phải phía dưới. ' Chủng ta không phải tìm được hai chữ mà haỉ tứ có hai què cần phía trên, tốn phía dưới và đường hai quẻ ấy là hướng tây bắc, đông nam.

    Chúng ta bỏ qua vòng tròn thớ 4 đồng tâm để đến vòng thứ 5, chúng ta cũng thấy lại như vậy nhưng hơi chếch về phía bên phải các chữ phía dưới và qua trái các chữ về phía trên cũng các đường canton, nhâm bính, tỷ ngợquỷ đinh. Cuối cùng vòng thứ 9 các đường ấy cũng hình thành như vậy và lần này cũng hơi chéch về bên phải các chữ phía trên và hơi chếch bên trái các chữ phía dưới.

    Như vậy, chúng ta có thể kết luận, theo vị thự Bộ Công, các kinh dô phẵi theo hướng giữa các đường cực tây bắc - đông nám (có hơi chếch về lây - ỉây bắc và đông - đông nam về đưòng càn tốn cùa vòng 5) và bắc - đông bắc, nam - tây nam (có hơi chếch về đông bắc và tây nam về đường quí đinh của vòng 9). Đó là những hướng tốt và xem như đêu thuộc vê mặt Nam cả.

    Trên thực U\ xem theo bản đồ địa lý 25/1.000, trục của các điện chính và ^ it a Kinh íhành Huế đều hướng theo một trong những đường

    càn tốn và muốn nghiêng về đường nhâm bính như vậy là gần gần như hướng tây bắc - đdng nam, xấp lại gần bắc - tây bắc, nam - động nam tửc là thẹo một hướng cỏ truyền và hành thông.

    Các nền văn minh Viễn đông quan tâm rất lổn đến sự chọn vị trí xây cất các công ữình và chọn hướng. Các vua chúa đều không thoất ra khỏi các luật lệ tỉ mĩ quyết định nhiều vấn đề rát tế nhị. và họ cfing lứụ ý đến những khó khăn vật chất khi thi cổng. Rất nhiều chĩ thị còn lưu giữ trong Tuyển tập bộ luật U) cũng được công bó trong việc xây dựng cửa Ngọ Môn.

    Lúc đầu, vằọ năm 1832, Bộ hữu quan theo dụ cũa hoàng đế, yêu cầu các nhà đương chức ở tỉnh Thanh Hóa vầ Quảng Nam eó thể cung cấp các lọại đá cỡ lớn. Họ tra lời là những người thợ đá chỉ có thể eắt đá 5 đến 6 thước (2m đến 2,40m) chỉều đài nhưng các loại đá cỡ 8 hay 10,thước (3,20m đến 4m) và lòn hơn họ không thể cố được. Một đu khác quy định cho họ phải cấp trước cuối năm, số lượng đầy đủ đá cỡ nhỏ. Còn các xà ngang, người ta sẽ dùng kim loại mà cấc xưởng quân cụ sẽ cung cấp cho thợ dóc.

    Cấc xà ngang, thẹo một dụ khác thì sổ lượng là 58 chiếc như chứng ta đã thẩy trẽn, có 10 thước 5 tấc hay 4,20m chiều đài, bề dày 3 tấc và chỉều rộng 4 tấc. Cẵc kích thước này khấc vớỉ cảc số liệu trong íử Minh Mạng. Theo Tuyển tập bộ luật chỉ có 12 xà dọc để dùng đỡ các xằ khác ô hai đẩu chì có“ 3 tác trên 2 tác và khỉ đúc họ chỉ dung tỉ lệ 6 phần đồng 4 phần thau vì lý do tiết kiệm.

    Tất cả-các chi dẫn đều ra trong nãm 1832 để chuẩn bị cho việc thi công,

    Đến nãm 1833 lại một dụ nữa quy định cãch trộn vữa: thường ngưdi ta trộn 7 lạng hỗn hợp cho 100 lạng vôỉ nhưng trong việc xây

    m Hội điển cuốn CCIX tờ 11 ab. 13 ab

    Cất khéi đặe của cửa Ngọ Môn có nhiều khó khăn nên họ quyết định thẽm cứ i 00 lạng vổi thì thêm vào 1 lạng hỗn hợp. Hơn nữa để chẽm chơ đá Thanh thì họ sẽ dùng một chất gắn đèo bằng dầu cãy Đồng Du.

    Như vậy là đến ngày 9 tháng 3 năm 1833 sử Mình Mạng ghị ngày xây dựng Đại Cung Môn, điện Thấỉ Hòa và cửa Ngọ Mõn. Chính ngày nay có ghi ở biển treo ở kèo của công trình tại Đại Cung Môn: "Xây vào niên hiệu 14 Minh Mạng, tháng gỉẽng, ngày tét".

    ở đây, nếu chúng ta mụốn biết chình xác ngày thi công hù phải dựa vàọ cạc tục lệ huyền bí của người An-nam. Một ngôi nhà cũng, phải dựng vào ngày tốt. Và các ngày ấy do lịch quy định một cách khãi quát và trong một vài trường hợp do thầy phù thủy, Lễ dựng nhà của một ngôi nhà theo quy tắc là công việc đặt đồn tay lên mái nhà hay nói cho đúng là đòn tay nọc nhà, Nhiều khi đán ngày tổt, mà phân đồn tay làm chưa xong ngựời tạ chôn hai cột buộc vôi nhau ở trên cố một thanh ngang tượng trưng cho đòn tay chính như vậy là nguyên tắc được tốn trọng; cách thượng lượng dàn cânh ấy cữag đú để khoắc lẽn chẽ ở sắp sửa xậy dựng toàn vẹn sau này, cùng .những ai sẽ ở trong căn nhà ấy mọi điều tốt đẹp nhờ biết tuân thủ ngày lành.

    Đối vối tất câ các điện cua Kinh thành, tất câ các tài liệu đèu ghi cụ thể tính chất can chi sự xây cất của đất nước, các biểu ngữ đều mong ngày tốt về xây dựng một cầch t! mỉ thận trọng. Chắc chắn là vua Gia Long và Minh Mạng đều theo quy định ắy khi xây dựng một dinh thự mà cả dân tộc đèu theo: vua chợn ngấy tốt và trong ngày ấy, vua sẽ thực hiện một cữ chi xem như hệ trọng nhất của việc xây cất một công trình, vua cho dựng sựờn nhằ hay một gian nào đỡ của-nhà. Nghĩa là vào trước ngày quy đỉnh trong tài liệu, người ta còn làm nhiều việc mở đầu như: đằo móng, làm nền sơ qua, lạm mòng ở Cấc nơi dựng cột, đo góc độ, lấp ghép, và bào láng các gỗ cụa sườn nhà v.v... Cồng việc ấy cũng giông như ở phương tây, người ta làm long

    trọng và ghi nhớ ngày xây móng khi đặt viên đá đầu riúi, cái ngày ấy chưa hẳn là ngày hắt đầu xây dựng công trình. Vì vậy phải nghĩ theo cách áy để hiểu những ngày đã ghi trong các tằi liệu để xây dựng các dinh thự An-riam u\

    Những lâu đài cung điện rộng lớn vối những bộ sườn lớn, chạm trổ và có vièn ngoài chạm khắc tỉ mỉ, nhièu câu đối, liễn thếp vàng không có thể xây dựng nhanh chóng được, Những bài sau này sẽ cho phép chúng ta dự phần vào các công trình và mường tượng bao nhiêu khổ khăn mà vua Mình Mạng vẽ lại.

    Tài liệu m Năm Quý Tỵ, niên hiệu 14 Minh Mạng, vào mùa xuân, thấng 3 (20 thảng 4 đến 18 tháng 5 năm 1833).

    ... Hoàng đế nghĩ rằng, đến cuối mùa xuân, nắng đã bắt dầu gắt nến chỉ thị cho thay đổi những quy định về cắc xưởng xây dựng Điện Thái Hòa, Đại Cung Môn và cửa Ngọ Môn: mỗi ngày vào đầu giờ sáng sẽ bắt đầú làm Việc và đến giữa giờ Tỵ ( 10 gid sáng) thì nghỉ, làm lại vào giữa giờ Mùi (2 giờ chièu) và nghỉ việc vào hoàng hôn.

    Vì vậy nên hoàng đế nói với giấm đốc Lê Vãn Đức như sau: "Trâm muốn giữ sức cho các quan và lính của trâm, trẫm mong họ có thể lực và họ đến như những người con vui vẻ. Khổng cần phải ép buộc họ hoàn thành trong thời gian quy ước.

    Hơn nữa.các Thấnh đế của trìều đại chúng ta đêu truyền lại tập quán ấy. Nhưng lúc đầu, khi khởi sự cống trình của Thành và điện chưa có vđủ thời gian để làm hoàn tất. Tiên đế trẫm đã phục quốc và bắt đầu xây lại Kinh Thành. Trẫm có nguyện ước là tiếp nối sự nghiệp càng lớn hơn và tinh xảo hơn để làm cho vạn kiếp sau hưổng. Do đó dĩ nhièn không làm sao tránh được gỉan khổ.

    01 Tôi ghi nhận xét này là nhờ ông Orbanđ. n' Thực lục chính nhị, cuốn Xc lờ 2 ab.

    Lệnh xuống khen thưởng cho quan và lính đáng làm việc được nhận thêm nửa tháng lương".

    Khi vua Gia Long xây dựng Hoàng cung, các quan đại thần có ý khuyên trách kính cân. Bài ta vừa đọc cho phép chúng ta nghĩ rằng dưới thời Minh Mạng các công ưình xây dựng cũng không khỏi bị ca thán mà hoàng đế phải xoa dịu bằng những lời khôn khéo dịu hiền và bằng phương pháp ồn hòa như bớt giờ làm và khen thưông.

    Một tháng sau, lại một ban ơn nữa cho thợ thuyền.

    Tài liệu X in "Năm Quý Ty, niên hiệu 14 Minh Mạng vào mùa hạ, tháng 4 (19-5 đến 17-6-1833)... Người ta thanh toán cho các xưởng điện Thái Hòa, Đại Cung Môn và cửa Ngọ Môn từ giấm' đốc cho đén lính trắng đều được nhận lương thực một lần",

    Tôi không tìm được các bài trong các sử bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào có ghi về ngày hoãn thành các công trình. Chúng ta chỉ cần .nhớ các điều sau đây: Xây dựng đòn tay đầu tiên cửa Đại Cung Môn cũng như của điện Thái Hòa và cửa Ngọ Môn vào ngày 9-3-1833, đến thãng 6 người ta vẫn còn xây dựng, có thể còn tiếp tục nhiều tháng nữa,

    Chúng ta chỉ cần cho biết các chi tiết về hai điểm sau đây:

    Cửa Đại Cung Môn làm như chúng ta đã thấy, trẽn vị trí mà vua Gia Long cho xây diện Thái Hòa và điện Thái Hòa đã xây xong vào năm Ị 805.

    Tài !ỉệu XI "Năm Ất Sửu, niên hiệu 4 Gia Long, vào xuân, thấng giêng... ngày Đinh VỊ (21 tháng 2 năm 1805) ne ười ta xây

    m Thực Ịục chính nhấĩ cuốn XCÍII ẾỜ 16a. m Thực lục Chính nhất cuổu XXVI tờ 5a.

    Điện Thái Hòa. Người ta thưởng cho quân lính và thợ thuyền trên 1400 lạng" tn .

    Công trình làm vào khoảng thời gian 8 tháng.

    Tài liệu XII121 "Năm Ất Sửu, niên hiệu 4 Gia Lóng vào mùa thu, tháng 8 (23-9 - 21-10-1805) điện Thái Hòa xây xong. Người ta phất thưởng Cho quân lính và thợ thuyền làm công trình ấy 1000 lạng".

    Chính trong điện ấy, năm sau, vào ngày Kỳ Vị của thấng 5 (28-tháng 6 năm 1806) niẽn hiệu 5 Gia Long, vua tự phong là hoàng đé °\

    Theo tài lỉệụ VIII, khi Minh Mạng dời điện vào nãm 1833 và vua xây lại cùng cắc kích thước và Chièu cao như trước. Không biết có dùng các thứ vật liệu như trước nhưng rõ là cái khung và các chạm trố ngày nay đều đề từ thdi Gia Long (18Ó5) hay thời Minh Mạng (1833).

    Điện Thái Họa được sửa chữa lại, bước đầu, vào niên hiệu 18 Gia Long (1819) t4> và một lần thứ hai vào niên hiệu 20 Minh Mạng (1839); lần ậy họ sơn bằng sơn mài và trang ưí các cột chính và các cột ổ phần trước; và người ta cũng Ịàm như vậy cho Đại Cung Môn(5) và Ngọ Môn,

    Địa. lý Duỳ Tân cho biết thêm về điện còn được tu sữa lần thứ 3 vào niên hiệu 3 Thành Thái năm 1891 và đến năm 1899 người ta lại lát gậch hoa xi-mắng, trang trí như ta thấy ngày nay.

    .Còn lạí vấn đề hơi rắc rối ỉà điện Càn Nguyên.

    Chúng ta đã thấy trong tài liệu I và VIII điện ấy chiếm ở giữa mặt nam của Hoàng Thành và dựng xây trên nền của lổi vào phía nam như vậy là cùng trên nền đó nhưng hơi dịch về phía sau. Tài Liệu IV có ghi cửa Ngọ Môn được xây vào năm 1833 trên nền nhà của đỉện Càn Nguyên và sau cùng tài liệu V có cho tín tức hình như trái ngược lại là năm 1833 điện càn Nguyên được chuyển tẽn thành Cung Càn Thành và ở đây vấn đề Càn Nguyên lại liên quan đén lịch sử của Đại Cung Môn, chúng ta thấy .treo ỡ gian giữa của ngôi nhà che Đại Cung Môn một tấm biển lớn sờn son thếp vàng có ghi dòng chữ; "Cung Càn Thành xây dựng vào niên hiệu 14 Minh Mạng 1833 tháng giêng ngày tét".

    Có những quan hệ gì gỉữa điện Càn Nguyên cữ vối ngôi nhà ở Đại Cung Môn? Khung của ngôi nhà đổ phải chăng ỉà khung gỗ của điện Càn Nguyên cũ hay chỉ.là một cắch chỉnh lại tên?

    Cũng có thể vua Minh Mạng cố ý định phá bỏ điện Càn Nguyên do phụ vương xây, lại sử dụng các vật liệu của điện này để xây Đại Cung Môn. Nhưng tổi chắc rằng không thể có kết luận được theo các bài mà tôi đã nẽu lên. Tôỉ cổ thể tin rằng giữa điện Càn Nguyên và Cung Càn Thành chỉ có một mói ìiẽn quan về tên gọi nhưng mỗi tên để chỉ cho một công trình riêng biệt.

    Chúng ta để ý là ưong vòng thành cùa Tử cấm Thành, tiếp sau điện Cần Chánh là một công trình tên là điẹn Càn Thành. Tôỉ không nói cung Càn Thành mà là diện Càn Thành vì hai tèn gọi này chỉ hai vật khác nhau,

    Điện Càn Thành mang tên đầu tiên của nó là ¿tiện Trung Hòa. Điện bắt đầu xây dựng ngày Kỷ Vị tháng 4 nỉẽn hiệu 10 Gia Long (2 tháng 6 nãm 1811) ^ và hoàn tất cùng một lần với điện Cần Chành đã thi công trước vào tháng 8, 9 trong cùng năm 12í.

Chia sẻ trang này