02 - Phần 02 -@lotus (done)

11/8/15
02 - Phần 02 -@lotus (done)
  • 6)Hà Tiên

    Cố nhiên trong giai đoạn nầy Bạc Liêu vẫn là phần đất còn nằm trong hệ thống tỉnh Hà Tiên. Mà Hà Tiên trải qua các đời Chúa Nguyễn đều giao trọng trách cho họ Mạc (Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích) làm Tổng binh Đại đô đốc, canh phòng chốn biên thùy, ngăn chống quân Xiêm (Xiêm La tức Thái Lan), dẹp quân Chân Lạp (Cao Miên tức Cam Bốt thường sang quấy nhiễu). Họ Mạc vốn người Việt gốc Hoa, nên lúc Hà Tiên được khai sáng phồn thịnh, thì người Trung Hoa ở Phúc Kiến, Hải Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, vì chống lại nhà Mãn Thanh nên bị săn đuổi trốn sang Hà Tiên ngày một đông. Do đó, đời tổng binh Mạc Thiên Tích (con Mạc Cửu), đoàn người Trung Hoa lưu vong ấy dần dần được di cư tới huyện Trấn Di để khai hoang lập nghiệp, nhiều nhất là người Triều Châu. Chính vì thế mà ngày sau, người Triều Châu (tục gọi là người Tiều) chiếm gần hết guồng máy sinh hoạt ở Bạc Liêu.

    Đời Tự Đức, Kinh lược sử Nguyễn Tri Phương có đến tận vùng nầy lập nhiều đồn điền và làng xã.

    Đến lúc sáu tỉnh Nam kỳ thuộc Pháp, từ năm 1882, Bạc Liêu mới được lập thành tỉnh.


    TÌM HIỂU DANH TỪ BẠC LIÊU

    Danh từ Bạc Liêu, đọc theo tiếng Hoa kiều, giọng Triều Châu gọi là Pô Léo, có nghĩa là xóm nghèo, làm nghề hạ bạc, tức nghề chài lưới, đánh cá, đi biển.

    phát âm theo tiếng hán Việt là “Bạc” và Léo phát âm thành “Liêu”.

    Một thuyết khác cho rằng Pó là bót, đồn. Liêu là Lào (Ai Lao) theo tiếng Cao Miên, vì trước khi người Hoa kiều đến sinh sống, nơi đó có một đồn binh do người Lào đồn trú.

    Người Pháp do theo tiếng Triều Châu Pô-Léo có nghĩa là xóm nghèo làm nghề hạ bạc – như đã nêu ở trên nên dịch theo nghĩa ấy là Phêcherié – chaume (đánh cá và cỏ tranh)


    BẠC LIÊU TRẢI QUA CUỘC BIẾN LOẠN

    Từ năm Đinh Dậu 1777, cuộc tranh chấp giữa quân đội Tây Sơn và quân đội chúa Nguyễn đến giai đoạn quyết liệt, vùng Bạc Liêu Cà Mau là nơi chúa Nguyễn bôn tẩu. (Chúng tôi sẽ lần lượt kể các chuyện trong khi “Gia Long tẩu quốc” nơi phần thứ II và phần thứ III)

    Ngoài cuộc nổi loạn lớn ấy, còn có lắm cuộc biến động hãi hùng trên vùng đất Bạc Liêu:

    1) LOẠN HOA KIỀU PHỦ LIÊM

    Thế sự tuần hoàn, hết suy đến thịnh.

    Sau thời kỳ thua Tây Sơn xiểng niểng và chạy trối chết, lại đến hồi Nguyễn Ánh nhờ ngoại viện trở phản công, Tây Sơn hết thời, Nguyễn Ánh thống nhất giang san, lập triều đại nhà Nguyễn dưới danh hiệu Gia Long hoàng đế.

    Suốt thời đại Gia Long, Bạc Liêu không có gì lạ. Qua thời đại Minh Mạng xảy ra cuộc nội loạn do Hoa kiều chủ xướng.

    Năm 1840, một Hoa kiều Phủ Liêm gây loạn chống Nam triều. Nguyên do: vua Minh Mạng vì tư thù nên xử tệ với công thần của tiên đế: Tả quân Lê Văn Duyệt Tổng trấn thành Gia Định.

    Lúc sống không dám ngang nhiên ngược đãi, vua Minh Mạng chờ đến lúc Tả quân tạ thế mới dùng nghiêm luật nhục mạ đấng công thần, gây công phẫn trong dân tâm, thúc đẩy nghĩa tử Lê Văn Khôi dấy lên. Trong bộ tham mưu của Lê Văn Khôi có người Hoa kiều là Mạch Tấn Giai làm đầu não. Do đó, khi binh triều dẹp xong Lê Văn Khôi chẳng khỏi đàn áp thẳng tay đến người Hoa kiều ở rải rác khắp nơi trên lãnh thổ ta lúc bấy giờ.

    Bị tình nghi có dính líu vào cuộc Lê Văn Khôi dấy binh, những Hoa kiều ở Bạc Liêu bị quan quân triều Minh Mạng khủng bố đủ điều. Bất bình, họ nổi loạn chống triều đình, dưới sự lãnh đạo của Phủ Liêm, từng đoàn kéo đi đốt phá cướp bóc không nương tay để trả đũa. Dân chúng ở Cà Mau chịu thiệt hại rất nhiều. Viên tri huyện Nguyễn Hiền Năng bị hạ sát. Tại Tân Xuyên hiện nay có một đài kỷ niệm do dân chúng tự dựng lên, để kỷ niệm công đức ông Huyện Năng (ông huyện này, lúc sanh tiền vốn là một minh quan một người hiền đức mới được nhân dân đối xử như thế) (*)
    (*) Xin xem thêm ở phần thứ hai, về chương Danh nhân

    Đối với quân nổi loạn của Hoa Kiều do Phủ Liêm cầm đầu, quan quân ở Châu Đốc và Hà Tiên đồng tâm hiệp lực kéo binh qua chinh tiễu một thời gian mới đàn áp được.

    Do kinh nghiệm vụ nầy, về sau Nam triều đã lập một huyện tại Cổ Cò, với mục đích hoàn toàn về chiến lược. Đồn binh ở Cổ Cò hiện nay chỉ còn để lại một nền đất cao làm di tích.


    2) CUỘC NỔI LOẠN CỦA NGƯỜI MIÊN TIA, SUM

    Năm 1859, hai người Cao Miên tên Tia và Sum gốc gác ở Trà Hương là miền hiện thuộc về Sóc Trăng, tự xưng là nguyên soái (Sana) dấy binh làm loạn, lôi kéo theo chúng tất cả người Miên và Hoa kiều. Phong trào phiến loạn sôi nổi dữ dội và trở nên toàn diện ở Bạc Liêu và Sóc Trăng. Viên lãnh binh của Nam triều chỉ huy đồn Bãi Xàu bị tử trận, đồn thất thủ, binh sĩ bị sát hại gần hết.

    Hạ được đồn Bãi Xàu, quân phiến loạn phấn khởi thêm lên, kéo đi gây sự khủng bố khắp nơi. Quan binh ở Bạc Liêu vô kế khả thi phải cầu viện với Tổng đốc An Giang.

    Vị tổng đốc An giang phái ngay một viên lãnh binh chỉ huy đoàn thủy quân lục chiến kéo đến đánh dẹp. Trong đạo quân nầy, còn có đoàn quân tình nguyện Mã Lai gọi là “Chiến thắng quân”.

    Nghe tin, quân phiến loạn dàn trận chống cự. Một trận đại chiến quyết liệt xảy ra tại Vàm Lẻo cửa vào rạch Bạc Liêu. Đạo binh Nam triều đánh cho quân phiến loạn tả tơi không còn manh giáp. Sana Tia tử trận. Quân phiến loạn tan vỡ, vác thây chủ tướng đào tẩu.

    Công cuộc bình định đã xong, an ninh tái lập.


    3) NGƯỜI MINH HƯƠNG VÀ THIÊN ĐỊA HỘI

    Từ cuộc đô hộ của người Pháp cho đến mãi về sau, người Tàu và Minh Hương trên đất nước nầy được hoàn toàn độc lập.

    Những nghị định năm 1867 và 1870 đồng hóa người Minh Hương với người Tàu, cho họ được miễn nhiều sưu thuế. Mãi đến năm 1874 mới có một sắc lệnh ban hành ngày 31 tháng 8 d.l. thâu hồi những nghị định nói trên và kể từ đó người Minh Hương được đối xử hoàn toàn như người Việt. Chính vào thời kỳ nầy ở Bạc Liêu phát sinh phong trào hội kín "Thiên địa hội" hoạt động phi pháp khủng bố lương dân, bắt buộc những người có máu mặt trong vùng phải đóng tiền vô quỹ của hội.

    Những hội viên của hội kín nầy gồm có người Hoa kiều, người Minh Hương và cả người Việt cũng có chân nữa. Ở vùng Bạc Liêu có hai Thiên địa hội hoạt động mạnh và gây rối loạn hơn hết là Hội Nghĩa hưng kèo (cờ) xanh và Hội Nghĩa hòa kèo vàng. Hai hội tranh đua giành giựt ảnh hưởng và quyền lợi với nhau, thường gây ra những trận ẩu đả chém lộn đổ máu làm mất an ninh. Để vãn hồi trật tự, bảo vệ an ninh cho dân chúng, chánh quyền mới quyết định phải lập một trung tâm hành chánh tại Bạc Liêu. Do đó, tỉnh Bạc Liêu hình thành vào năm 1882.

    4) LOẠN LÂM LÂM

    Thổ dân Lâm Lâm cầm đầu dân Lạc Hòa quận Vĩnh Châu nổi loại đồng thời với loạn Tia, Sum đã nói trên tại bãi Phù Tự (tên cũ của Bãi Xàu, tức là quận Mỹ Xuyên hiện thời). Nam triều phải vô cùng vất vả mới dẹp xong. Trong dịp nầy Nguyễn Tri Phương vâng chỉ vua vào tận nơi tổ chức lại hệ thống cơ đội, đồn điền khắp nơi, di tích còn các nền đồn cũ ở các vùng xã Vĩnh Trạch, Vĩnh Mỹ, Long Thạnh, quận Vĩnh Lợi, với một số khí giới tìm thấy khoảng năm 1930.

    NHỮNG THĂNG TRẦM, BIẾN CHUYỂN CỦA BẠC LIÊU

    Trong thời Pháp thuộc, tỉnh Bạc Liêu thành lập vào năm 1882 do viên chủ tỉnh đầu tiên là Lamothe de Carier nắm quyền cai trị. Lúc đầu chỉ gồm có 2 quận: Vĩnh Lợi và Cà Mau. Đến năm 1904, phân ranh lại, lập thêm quận Vĩnh Châu gồm tổng 5 làng. Rồi đến năm 1918, lại cắt phần đất thuộc quận Cà Mau và tỉnh lỵ mà lập thành một quận nữa là quận Giá Rai. Trước sau tất cả gồm 4 quận, diện tích chung phỏng định 705.000 mẫu tây (1/8 diện tích của miền Nam), chia ra như sau:

    - Vĩnh Lợi 44.784 mẫu tây

    - Cà Mau 521.000 mẫu

    - Vĩnh Châu 31.688 mẫu

    - Giá Rai 107.531 mẫu

    Năm 1947, quận Phước Long thuộc tỉnh Rạch Giá (bây giờ là Kiên Giang) được sát nhập qua Bạc Liêu, trong khi quận Cà Mau trong tỉnh đã đổi thành tỉnh, chia ra 4 quận:

    - Vĩnh Lợi

    - Vĩnh Châu

    - Giá Rai

    - Phước Long

    Tám năm sau, tỉnh Bạc Liêu bị chính phủ Ngô Đình diệm bãi bỏ đi. Do sắc lịnh số 143/NV ngày 25-10-55 bốn quận kể trên đã sáp nhập với Sóc Trăng thành ra tỉnh Ba Xuyên, tỉnh lỵ Bạc Liêu trở thành quân lỵ Vĩnh Lợi. Tỉnh Cà Mau thì đổi tên là An Xuyên. Rồi năm 1961, nghị định số 244/NV ký ngày 24-12-61, lại rút quận Phước Long sáp nhập tỉnh Ba Xuyên mà đem vào địa phận tỉnh Chương Thiện mới thành lập.

    Những cuộc thay đổi danh từ và ranh giới đều do một ý định: thủ tiêu các tàn tích của thời kỳ thực dân đô hộ. Dụng ý vẫn có hay, nhưng vì không nghiên cứu kỹ, nhắm mục đích tuyên truyền chính trị hơn là nghĩ đến sự thiết thực tiện lợi cho quần chúng, chính phủ Diệm đã động phạm đến luật tự nhiên. Rốt cuộc, vẫn phải trở về đường lối cũ.

    Kể từ ngày 1-10-64, tỉnh Bạc Liêu được tái lập do sắc lịnh số 245/NV ký ngày 8-9-64 gồm 4 quận cũ, chia làm 5 tổng, 17 xã:

    Vĩnh Lợi
    Vĩnh Châu
    Giá Rai
    ==> rút lại của tỉnh Ba Xuyên
    Phước Long: rút về của tỉnh Chương Thiện

    Trang 37 của bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào
    =====

    VỊ TRÍ – ĐỊA GIỚI

    Đông bắc giáp tỉnh Ba Xuyên và biển Nam

    Tây Bắc giáp tỉnh Kiên Giang và vịnh Thái Lan

    Nam giáp Nam Hải

    DIỆN TÍCH - DÂN SỐ

    *Diện tích chung toàn quận (nay là tỉnh) là 490.640 mẫu tây, kể cả sông và rạch. Trong số này 122.920 mẫu ruộng, 3.356 mẫu trồng trọt các thứ hoa mầu cây trái, 167.961 mẫu rừng, và 101.125 mẫu còn bỏ hoang.

    Từ một quận của Bạc Liêu, sau khi được nâng lên hàng một tỉnh gồm có 6 quận:

    1) Quản Long gồm 4 xã 49 ấp

    2) Thới Bình - 4 - 43 -

    3) Sông Ông Đốc - 3 - 30 -

    4) Cái Nước - 6 - 72 -

    5) Đầm Dơi - 4 - 54 -

    6) Năm Căn - 2 - 24 -

    *Dân số chung có 256.442 người, chia ra:

    253.250 người Việt chính tông

    511 - gốc Hoa

    2.681 - gốc Miên

    Mật độ trung bình : 50 người sống trên 1 cây số vuông.


    SÔNG RẠCH

    Phần chảy ra biển Nam:

    - Sông Gành Hàu dài 51 cây số

    - Sông Bồ Đề dài 10 cây số

    Nước của các sông rạch đã giúp một phần lớn dân chúng sống nghề nông và nghề hạ bạc. Nhờ sông rạch nối liền làm cho đồng ruộng bớt phèn và trở nên màu mỡ, việc thông thương tiếp tục được điều hòa.


    BỜ BIỂN

    Vịnh Thái Lan và bờ biển Nam Hải bao bọc miền duyên hải, thuộc các quận Thới Bình, sông Ông Đốc, Cái Nước, Năm Căn và Đầm Dơi là những nơi có nhiều nguồn lợi về hải sản.

    Dân chúng sống nghề hạ bạc tập trung theo ven biển. Cửa biển sông Ông Đốc sau nầy có thể trở nên hải cảng phồn thịnh ở miền Hậu Giang. Tàu đánh cá ngoại quốc thường đến mua cá chở sang Tân Gia Ba.

    Các chiến hạm của Hải quân hoạt động trên hải phận này rất thuận tiện, và các tuần đỉnh của Quan thuế, Thủy lâm cũng di chuyển mau lẹ nên việc kiểm soát rất chặt chẽ dọc theo ven biển.
    :rose: