02. Trang 22 -42- @ngankhanh.tran (tạm dừng) - @dtpmai189 (done)

13/7/15
02. Trang 22 -42- @ngankhanh.tran (tạm dừng) - @dtpmai189 (done)
  • 2. SƠ LƯỢC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH CHỮ QUỐC NGỮ

    Chữ Việt ngày nay là một thứ chữ đã được nhiều Linh mục Dòng Tên ở Việt Nam (với sự cộng tác âm thầm của một số Thầy giảng Việt Nam) vào thế kỷ 17 sáng tạo ra. Nói một cách tổng quát thì họ đã dùng mẫu tự La tinh, rồi dựa vào phần nào của chữ Bồ Đào Nha, Ý và mấy dấu Hy Lạp, để làm thành chữ mà chúng ta đang dùng [29]. Chúng ta đều quá rõ là vào thời ấy, Việt Nam dùng chữ Nho là chính, còn chữ Nôm là phụ thuộc.

    Khi các nhà truyền giáo đến Đàng Trong đã bắt đầu áp dụng dần dần mẫu tự La tinh cho tiếng Việt. Thực ra đây là một cách bắt chước các nhà truyền giáo Dòng Tên Tây phương ở Nhật Bản. Vì đầu thế kỷ thứ 17, họ cũng đã cho xuất bản một vài cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào ngữ vựng và ngữ pháp Nhật theo mẫu tự abc [30].

    Sau đây chúng tôi sẽ theo các tài liệu viết tay và cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào của C. Borri vào đầu thế kỷ thứ 17, sơ lược sự hình thành chữ quốc ngữ qua hai giai đoạn : 1620-16261631-1648.

    GIAI ĐOẠN MỘT : 1620-1626

    Theo lịch sử để lại thì vào giữa thế kỷ thứ 16 và nhất là vào cuối thế kỷ đó, mấy nhà truyền giáo Âu châu, như I Ni Khu, Gaspar da Santa Cruz, Louis da Fonseca, G. de la Motte, Diego Advarte đã đến miền Hà Tiên và Thừa Thiên [31] ; nhưng hoạt động của các ông không được ghi lại rõ rệt.

    Sang đầu thế kỷ 17, các nhà truyền giáo Dòng Tên gồm người Âu châu và một số ít người Trung Hoa, Nhật Bản, mới chính thức đến truyền bá Phúc âm ở Việt nam, và hoạt động của các ông đã được ghi lại khá đầy đủ.

    Ngày 6-1-1615, ba tu sĩ Dòng Tên là hai L.m. Francesco Buzomi (Ý), Diego Carvalho (Bồ Đào Nha) và Thầy Antonio Dias (Bồ Đào Nha) [32], đáp tàu buôn Bồ Đào Nha từ Áo Môn đi Đàng Trong và tới Cửa Hàn ngày 18-1-1615 [33]. Sau đó mấy tháng các ông đến ở Hội An. Tại đây, nhờ biết tiếng Trung Hoa và Nhật, nên các ông có thể giao thiệp với kiều dân Hoa Nhật. Nhân tiện, chúng tôi cũng xin ghi lại mấy dòng lịch sử Hội An thời ấy.

    Theo sự hiểu biết của chúng tôi thì thời đó người Việt gọi Hội An là Hải Phố, tức là nơi buôn bán ở bờ bể. Khi người Nhật và Trung hoa tới đó bắt đầu từ cuối thế kỷ 16, Hải Phố là nơi buôn bán sầm uất. Các nhà truyền giáo tới đây vào năm 1615, nghe người Nhật đọc Hải Phố là Hoaipho, nhưng rồi các ông thường đọc trại Faifo [34]. Người Âu châu viết chữ Hải Phố bằng nhiều cách: Haifo, Hai fo, Haito, Faifo, Facfo, Fayfo, Fayfô, Fayfó, Faiso, Taifò, v.v... Tại Hội An, có hai khu riêng biệt, một dành cho người Trung Hoa, một dành cho người Nhật. Kiều dân Nhật dưới quyền cai trị của một người Nhật do Chúa Nguyễn bổ nhiệm, Hoa kiều cũng do một người Trung Hoa cai trị được Chúa Nguyễn bổ nhiệm. Riêng vị chỉ huy người Nhật lại được Chúa Nguyễn trao cho trách nhiệm về các người Tây phương ở Hội An [35]. Theo Borri, thời ấy Đàng Trong có hơn 60 cửa bể, sầm uất nhất là Hội An, còn hai hải cảng quan trọng thứ nhì là cửa Hàn và Nước Mặn (Qui Nhơn). Các thương thuyền Trung Hoa, Nhật, Manila, Mã Lai, Cam Bốt v.v... thường đến ba cửa bể đó.

    Ba nhà truyền giáo mà chúng ta vừa nói, đến Hội An với mục đích đầu tiên là để giúp đỡ giáo hữu Nhật về mặt tôn giáo, và nhờ người Nhật làm thông ngôn để tiếp xúc với người Việt Nam. Sau năm 1615, nhiều tu sĩ Dòng Tên khác không những đến truyền giáo ở Đàng Trong mà cả Đàng Ngoài nữa, nhưng đa số là người Bồ Đào Nha [36].

    Các nhà truyền giáo tới Việt Nam thời ấy đều phải học tiếng Việt mới có thể tiếp xúc với người Việt Nam. Theo chúng tôi biết thì L.m. Francisco de Pina là người Âu Châu đầu tiên nói thạo tiếng Việt. Pina sinh năm 1585 ở Bồ Đào Nha, ông tới Đàng Trong năm 1617. Lúc đầu Pina sống ở Hội An, sang năm 1618 ông ở tại Nước Mặn với Buzomi và Borri. Hai năm sau, ông trở lại Hội An, rồi năm 1623, Pina đến ở tại Thanh Chiêm, thủ phủ Quảng Nam Dinh. Pina chết đuối ở bờ bể Quảng Nam ngày 15-12-1625. Dịp đó có tầu Bồ Đào từ Cam Bốt về Áo Môn, bỏ neo ở hải phận Quảng Nam, Pina cùng một người Việt Nam chèo thuyền ra tầu Bồ Đào để lấy các đồ phụng tự. Khi thuyền đang đi vào bờ, bị gió bão bất chợt, lật thuyền Pina. Vì mặc áo dài, Pina không bơi vào được, còn người Việt kia bơi vào bờ thoát nạn. Sau đó người ta vớt được xác Pina đem về Hội An làm lễ an táng rất trọng thể [37].

    Nhờ biết tiếng Việt, nên ngay từ năm 1620 các tu sĩ Dòng Tên tại Hội An [38] đã soạn thảo một bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào giáo lý bằng “ chữ Đàng Trong ” tức là chữ Nôm [39]. Cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào này vì soạn bằng chữ Nôm, nên chắc phải có sự cộng tác của người Việt.

    Nhưng chúng tôi tưởng cuốn này cũng được viết bằng chữ Việt mới nữa (chữ quốc ngữ ngày nay), mà người có công soạn thảo là L.m. Francisco de Pina vì lúc đó chỉ có ông là người Âu châu thạo tiếng Việt nhất. Chúng tôi đoán rằng, cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào này không được in (in theo kiểu Việt Nam thời đó), mà chỉ chép tay. Có lẽ lúc ấy người Công giáo ở Hội An, Quảng Nam... chép tay bản chữ Nôm để dùng, còn các nhà truyền giáo lại chép sang mẫu tự abc. Nếu đúng thế thì đây là cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào Việt Nam đầu tiên bằng mẫu tự La tinh. Tiếc rằng ngày nay không còn thấy cuốn giáo lý trên dầu là bản chữ Nôm hay chữ quốc ngữ.

    Theo sự nhận xét của chúng tôi thì vào năm 1620 dù L.m. Pina đã nói được tiếng Việt, nhưng khó lòng mà phân biệt được lối cách ngữ như chúng ta dùng ngày nay. Dựa vào những tài liệu viết tay năm 1621-1626, chúng tôi biết được hầu hết các chữ còn viết liền và chưa thấy đánh dấu vào những chữ đó. Chính dựa theo hai đặc điểm này mà chúng tôi cho là giai đọan sơ khởi chữ quốc ngữ. Bây giờ chúng tôi xin trình bày 7 tài liệu để chứng minh.

    Tài liệu viết tay năm 1621 của João Roiz

    Đây là bản tường trình hằng năm của Tỉnh Dòng Tên Nhật Bản, mà L.m. Giám sát ủy cho L.m. João Roiz dựa theo các báo cáo ở Đàng Trong soạn thảo, để gởi cho L.m. Mutio Viteleschi, Bề trên Cả Dòng Tên ở La Mã. Tài liệu soạn bằng tiếng Bồ Đào Nha, gồm 15 tờ tức 30 trang kể cả trang bìa. Chữ viết trung bình, không lớn quá cũng không nhỏ quá, trong khổ 14 X 22 cm. Tường trình này biên soạn tại Áo Môn ngày 20-11-1621. Tài liệu chia ra ba phần rõ rệt : Phần mở đầu gồm 6 trang ; Phần thứ hai gồm 8 trang ghi lại những hoạt động của các tu sĩ Dòng Tên tại Hội An và phụ cận với đầu đề : “Residencia de Faifô na Provincia de Cacham” (Cư sở Hội An trong tình Cacham [Quảng Nam] ; phần thứ ba gồm những trang còn lại viết về những kết quả truyền giáo ở Nước Mặn, với đầu đề : “Residencia de Nuocman na provincia de Pulo Cambi” (Cư sở Nước Mặn trong tình Pulo Cambi [Qui Nhơn]) [40]. Dưới đây là những chữ quốc ngữ trong tài liệu :


    Annam [41] : An Nam.

    Sinoa [42] : Xứ Hóa, tức Thuận Hóa.

    Unsai [43] : Ông Sãi.

    Cacham [44] : Ca chàm (kẻ Chàm hay Thạnh Chiêm), là thủ phủ Quảng Nam Dinh, ở về phía Tây Hội An ngày nay. Dân chúng thời ấy cũng gọi Kẻ Chàm là Dinh Chàm.

    Ungue : Catécismo fez o Pe ao Ungue nosso amigo, ea(?) outros muitos assi Christaõs como gentios, que concorrerão aouuilo [a ouvido] [45] (Một Cha dạy giáo lý cho ông Nghè, ông là người bạn thân của chúng tôi, và Cha đó cũng dạy giáo lý cho nhiều giáo hữu cùng lương dân tuốn đến nghe giảng).

    Chữ Ungue tức Ông Nghè được tác giả viết liền lại chứ không viết cách ngữ như chúng ta ngày nay. Chúng ta đều biết, Ông Nghè là một danh từ bình dân dùng để gọi các vị Tiến sĩ. Còn danh từ Ông Nghè Bộ, mà chúng ta thấy trong các tài liệu viết tay cũng như trong bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào truyền giáo của nhiều nhà truyền giáo Tây phương ở Việt Nam vào thế kỷ thứ 17, là một chức quan ở các Dinh (Tỉnh) Đàng Trong, có nhiệm vụ lo việc thuế má và tài chính. Thực ra, chức vị của ông này là Cai bạ, một trong ba quan (Đô tri, Cai bạ, Nha úy) làm việc trực tiếp dưới quyền viên Trấn thủ của mỗi dinh. Tiện đây cũng nên biết các nhà truyền giáo Tây phương viết chữ Ông Nghè hoặc Ông Nghè Bộ dưới nhiều hình thức khác nhau :

    Gaspar LUIS, Cocincinensis missionnis annuae Litterae anni 1260, ARSI, JS. 71 : Unguè (f. 23v), Ungué (f. 24v).

    BORRI, Relation de la nouvelle mission des Pères de la Compagnie de Jesus, Lille, 1631 : Omgné (tr. 182)

    RHODES, Histoire du Royaume de Tunquin, Lyon, 1651: Oun ghe (tr. 170).

    RHODES, Relation des progrès de la foi au royaume de la Cochinchine, Paris, 1652 : Ouenglebo (tr. 43), Onghebo (tr. 44).

    RHODES, Divers voyages et missions, Paris, 1653 : Onyhebo (tr. 123, Oun Gueh (tr. 183), Ongehbo (tr. 203), Ongehbo (tr. 203), Ou-nges-bo (tr. 206), Oun ghebo (tr. 212), Oun-ges-bo (tr. 226).

    Metelle SACCANO, Relation des progrès de la foi au royaume de la Cochinchine és années 1646 et 1647, Paris, 1653 : Onguebo (tr. 133).

    Maurus de Sa. MARIA, Thư viết tại cửa Hàn ngày 2-8- 1698, gửi cho L.m. J. - A. Arnedo, ARSI, JS. 70 : Oũ ngè bộ (f 264r).

    Emmanuel FERREYRA, Noticias summarias das perseguicoẽs da missam de Cochinchina, Lisboa, 1700 : Oum Nhembo (tr. 52), Oum Nhebo (tr. 53), Ou Nhebo (tr. 54).


    Sau khi chúng ta tìm hiểu lối viết chữ Ông Nghè của các tác giả trên đây, bây giờ chúng ta tiếp tục trích ra những chữ quốc ngữ trong bản tường trình của João Roiz :

    Ontrũ [46] : Ông Trùm, là một người đứng đầu Xứ đạo.

    Nuocman [47] : Nước mặn, một thành phố xưa ở phía Bắc Qui Nhơn ngày nay chừng 20 cs. Một số bản đồ thế kỷ thứ 19 còn ghi địa danh này [48].

    Bafu [49] : Bà Phủ, tức là vợ quan phủ Qui Nhơn vào năm 1618. Nên nhớ lúc đó Qui Nhơn mới chỉ là một Phủ giáp với lãnh thổ Chiêm Thành.

    Sai Tubin [50] : Sãi Từ Bình (?).

    Banco [51] : Bàn cổ một “thần” khổng lồ tạo dựng vũ trụ, con người. Hồi xưa dân Việt Nam theo thần thoại Trung Hoa nghĩ như thế.

    Oundelim [52] : Ông Đề lĩnh.

    Tài liệu viết tay năm 1621 của Gaspar Luis

    Cùng năm 1621, L.m. Gaspar Luis cũng viết một bản tường trình về giáo đoàn Đàng Trong gửi cho L.m. Mutio Vitelleschi ở La Mã. Nội dung bản tường trình này cũng không khác của João Roiz. Tuy nhiên, bản của Luis lại soạn thảo bằng La ngữ và vắn hơn bản của Roiz. Tài liệu gồm tám trang rưỡi, viết chữ cỡ trung bình, trong khổ 12 X 20 cm. Tác giả soạn tài liệu này tại Ấo Môn ngày 12-12-1621 [53]. Gaspar Luis nhắc đến ít danh từ Việt hơn Roiz. Nếu có dùng vài ba chữ Việt, thì lại cũng viết giống như Roiz, ví dụ : Cacham, Nuocman, trừ hai chữ sau đây Luis viết khác Roiz :

    UngueUngué [54] : Ông nghè.

    Bancô [55] : Bàn cổ.

    Tài liệu năm 1621 của Cristoforo Borri

    Trước khi bàn tới tài liệu của Cristoforo [56] Borri, thiết tưởng nên biết qua tiểu sử của ông, vì ông là người Tây phương đầu tiên đã viết và cho xuất bản một cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào khá dài về xứ Đàng Trong đầu thế kỷ 17.

    Cristoforo Borri (1583-1632) sinh tại Milan, gia nhập Dòng Tên ngày 16-9-1601. Năm 1615 ông đi Đông Á truyền giáo, nhưng chúng tôi không rõ ông tới Áo Môn vào năm nào.

    Chỉ biết năm 1618 Borri phải tàng hình bồi tầu đi thương thuyền Bồ Đào từ Áo Môn tới Đàng Trong cùng chuyến với L.m. Pedro Marques. Ngay năm đó Borri theo hai L.m. Buzomi và Pina đến lập cơ sở truyền giáo ở Nước Mặn. Năm 1621, Borri rời Nước Mặn và cũng rời Đàng Trong luôn để về Áo Môn. Năm 1623 người ta thấy ông có mặt ở Goa. Sau đó ông về Bồ Đào Nha dạy Toán tại trường Đại học Coimbra. Tuy Borri chỉ sông ở Đàng Trong có 3 năm, nhưng ông khá thành thạo tiếng Việt và hiểu biết nhiều về xứ này. Borri lại rất giỏi về Toán, Thiên văn và khoa Hàng hải. Khi vua Philipphê nước Tây Ban Nha nghe biết Borri đang nêu nhiều thuyết mới ở Coimbra, liên vời ông sang Madrid để trình bày những khám phá của ông.

    Chính Borri đã viết một cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào bằng Bồ ngữ bàn về nghệ thuật đi biển [57], nhưng cho đến nay cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào chưa được xuất bản mà vẫn còn nằm ở Evora (Bồ Đào). Ông cũng viết cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào chỉ dẫn đi Ấn Độ [58] bằng tiếng Ý, nhưng chưa soạn xong. Cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào của Borri làm chấn động dư luận lúc đó hơn cả viết về Ba tầng trời: khí, hành tinh, thiên khung [59]. Sách soạn bằng La ngữ và mãi khi ông qua đời được 9 năm rồi mới xuất bản. Năm 1631, Borri cho ấn hành ở Lisboa một tập về Thiên văn soạn bằng La ngữ [60].

    Khi Borri ở Coimbra và Madrid nêu ra chủ thuyết ba tầng trời gây xôn xao trong nhiều giới, nên L.m. Vitelleschi Bề trên Cả Dòng Tên phải gọi ông về La Mậ. Có lẽ cũng vì vậy một phần mà vào khoảng đầu năm 1632 ông xin xuất Dòng Tên, để vào tu trong Dòng “Bernardins de Ste Croix de Jérusalem” ở La Mã ; nhờ có phép đặc biệt của Tòa Thánh, chỉ sau ba tháng Nhà Tập, ông được phép khấn trong Dòng đó. Nhưng ông lại không khấn, nên tự ý xin ra khỏi Dòng này, rồi xin gia nhập tu viện Xi tô cũng ở La Mã. Tu được mấy tháng, Borri bị nhà Dòng trục xuất, ông liền kiện nhà Dòng và ông đã thắng kiện. Trong khi đi báo tin mừng đó cho một vị giám chức ở La Mã, thì ông bị chết giữa đường ngày 24-5-1632 [61].


    Bây giờ chúng ta nhìn vào cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào của Borri viết về Đàng Trong để trích ra những chữ quốc ngữ trong đó. Cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào được xuất bản [62] lần đầu tiên bằng Ý ngữ năm 1631, cùng năm đó bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào được dịch ra Pháp ngữ đồng ấn hành tại Lille và Rennes, đến năm 1632 lại được dịch ra La ngữ xuất bản ở Vienne, cũng năm 1632 được dịch ra tiếng Hòa Lan xuất bản ở Louvain, năm 1633 lại dịch ra Đức ngữ xuất bản ở Vienne và một bản Anh ngữ tại Luân Đôn. Năm 1704 một bản dịch mới bằng Anh ngữ được xuất hiện trong tuyển tập Churchill. Năm 1811, tuyển tập du hành của Pinkerton [63] in lại hoàn toàn bản dịch trong tuyển tập Churchill. Năm 1931, ông Bonifacy lại dịch từ bản tiếng Ý sang Pháp văn và cho ÚI trong Bulletin des Amis du Vieux Hué [64].

    Tuy cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào của Borri được in lần đầu tiên bằng tiếng Ý năm 1631, nhưng phải hiểu là những chữ quốc ngữ trong đó là thứ chữ ông viết vào năm 1620-1621. Bởi vì Borri bỏ Đàng Trong hoàn toàn năm 1621, và khi ông về Âu châu chắc không sửa lại những chữ Việt trước khi đem xuất bản. Vậy chúng ta phải coi thứ chữ quốc ngữ này là vào năm 1621. Có một điều cũng nói rõ ở đây là, những chữ quốc ngữ trong bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào của Borri sự thường không đúng hoàn toàn với những chữ trong bản thảo của ông, bởi vì nhà in không có những dấu chữ quốc ngữ mà rất có thể Borri đã dùng lúc soạn thảo. Tiếc rằng chúng ta không có chính bản viết tay của Borri để trình bày. Dưới đây chúng tôi xin căn cứ theo cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào của Borri nhan đề Relatione della nuova Missione... in tại La Mã năm 1631, rút ra những chữ quốc ngữ trong đó. Chúng tôi xin bỏ qua việc ghi lại các số trang có chữ quốc ngữ, vì không cần.


    Anam : An Nam

    Tunchim : Đông Kinh.

    Lai : Lào. Nước Lào

    Ainam : Hải Nam. Đảo Hải Nam.

    Kemoi : Kẻ Mọi. Xứ Mọi ở Cao nguyên Trung phần

    Sinuua : Xứ Hóa (Thuận Hóa).

    Cacciam : Ca Chàm (Kẻ Chàm, thủ phủ Quảng Nam Dinh).

    Quamguya : Quảng Nghĩa

    Quignin : Qui Nhơn.

    Renran: Ran Ran, tức sông Đà Rằng miền Phú Yên.

    Dàdèn, Lùt, Dàdèn Lùt : Đã đến lụt, Đã đến lụt.

    Nayre : Nài, Nài voi.

    doij : đói.

    scin mocaij : xin một cái. Cho tôi xin một cái.

    chià : trà. Uống trà, cây trà.

    Sayc Kim : Sách Kinh. Tứ Thư, Ngũ Kinh.

    Sayc Chiu : Sách chữ.

    Cò : Có

    Con gnoo muon bau tlom loom Hoalaom chiam : Con nhỏ muốn vào trong lòng Hoa Lang chăng. Người thông ngôn đã dùng lầm những tiếng đó để hỏi một người khác có muốn gia nhập đạo Công giáo không. Vì thời ấy một số người hiểu lầm, gọi đạo Công giáo là đạo Hoa Lang, mà đạo Hoa Lang có nghĩa là đạo Bồ Đào Nha. Sở dĩ có danh từ Hoa Lang là vì, theo sự hiểu biết của chúng tôi, khi người Bồ Đào tới Đàng Trong bán một thứ vải có in hoa giống như Hoa Lang, vì thế người ta gọi những thương gia ấy là người Hoa Lang. Các nhà truyền giáo đến Đàng Trong vào đầu thế kỷ 17 cũng bị dân chúng gọi là người Hoa Lang, tức là người Bồ Đào Nha, mặc dầu vào năm 1618 đã thấy những nhà truyền giáo Nhật, Ý, Trung Hoa tới Đàng Trong [65].

    Muon bau dau christiam chiam : Muốn vào đạo Christiang chăng. Vì thây người ta hiểu lầm về đạo Công giáo, nên L.m. Buzomi đã tìm được câu trên đây thay vào câu kia, để hỏi người Việt mỗi khi họ muốn vào đạo Công giáo.

    Onsaij : ông Sãi.

    Quanghia : Quảng Nghĩa.

    Nuoecman : Nước Mặn.

    Da, an, nua, Da, an, het : Đã ăn nửa, Đã ăn hết. Khi có nguyệt thực, dân quê Việt Nam tin là có gấu ăn trăng.

    Omgne : Ông Nghè.

    Tuijciam, Biet : Tôi chẳng biết.

    Onsaij di Lay : ông Sãi đi lại, hay là ông Thầy đi lại. Khi người Việt thấy các L.m. Tây phương cứ đi đi lại lại, thì họ nói thế. Việc đi đi lại lại cho khỏe, người Việt Nam ngày xưa không có thói quen này. Cũng nên biết rằng, thời đó dân chúng gọi các Linh mục là Thầy và đọc trại đi là i. Dân chúng cũng gọi các nhà sư (Thầy) là Sãi.

    Bancò : Bàn cổ, ông Bàn cổ.

    Maa : Ma. Ma quỉ.

    Maqui, Macò : Ma quỉ, Ma quái.

    Bũa : Vua

    Chiuua : Chúa




    [29] Chúng tôi xin viết vắn tắt như vậy về phương diện này. Ưđc mong các nhà lịch sử ngữ học Việt Nam nghiên cứu sâu rộng hơn. Thực ra, ít nhất cũng đã có ba người bàn luận sơ qua:
    - LÊ-NGỌC-TRỤ, chữ quốc-ngữ từ thế-kỷ XVII đến cuối thế-kỷ XIX, trong Việt-Nam Khảo-cổ tập-san, số 2, Saigon, 1961, tr. 113-116. - NGUYỄN-KHẮC-XUYÊN, Giáo sĩ A-lịch-sơn Đắc-Lộ với chữ quốc-ngữ, ibid, tr. 76-107. - THANH-LÃNG, Những chặng đường của chữ viết Quốc-ngữ, trong báo Đại-học, Năm thứ IV, số 1, tháng 2-1961, tr. 6-36.

    [30] Vocabulario da Lingoa de Japam com adeclaracao em Portugues feito por alguns Padres, e lrmaõs da Companhia de Jesu. Em Nangasaqui, no Collegio de Japam da Companhia de Jesu, 1603, in-4°, 330ff. - João RODRIGUES, Arte da Lingoa de Japam.Composta pello Padre JoãoRodrigues da Cõpanhia de Jesu. Divida em tres livros. Em Nangasaqui, no Collegio de Japão da Companhia de Jesu, 1640, in-80, 23°ff. Có thể coi thêm : J. LAURES, Kirisitan Bunko, Tokyo, 1940, tr. 330-331. - R. STREIT, Bibliotheca Missionum, Quyển IV, tr. 513 và V, tr. 378-379.

    [31] ANDRÉ-MARIE, Missions dominicaines dans l’Extrême Orient, T.1, Paris, 1865,tr. 383-387. - L.E. LOUVET, La Cochinchine religieuse,Vol. L, Paris, 1885, tr. 223-233. - NGUYỄN-HỒNG, Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, Saigon, 1959, tr. 14-42.

    [32] L.m. Francesco BUZOMI (1576-1639) người Ý, tới Đàng Trong năm 1615. Năm 1639 Chúa Nguyễn Phúc Lan yêu cầu ông trở về Áo Môn lo liệu cho Chúa một việc. Công việc chưa xong thì ông bị bệnh qua đời ngay tại Áo Môn cùng năm 1639. - L.m. Diego CARVALHO (1578- 1624) đến Đàng Trong cùng năm với Buzomi, nhưng năm 1616 ông đi truyền giáo tại Nhật Bản trong những điều kiện rất khó khăn, sau cùng ông tử vì đạo tại Nhật ngày 22-2-1624. - Thầy Antonio DIAS (1585- ?) sống ở Đàng Trong liên tục từ 1615 đến khi bị Chúa Nguỵễn Phúc Lan trục xuất năm 1639. Chúng tôi không rõ ông qua đời ở đâu và năm nào?

    [33] Thư của L.m. Valentino de CARVALHO gởi cho L.m. Nuno Mascarenhas, Phụ tá Bề trên Cả Dòng Tên Vùng Bồ Đào Nha, viết tại Áo Môn ngày 9-2-1615, ARSI, JS. 16 ll, f. 174. - RHODES, Divers voyages et missions, tr. 68.

    [34] E. FERREYRA, Noticias summarias das perseguições da missam de Cochinchina Lisboa, 1700, tr. 4.

    [35] Trong bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào này chúng tôi xin dùng danh từ Hội An ngày nay

    [36] Từ năm 1615 đến 1788, có 145 tu sĩ Dòng Tên thuộc 17 quốc tịch sau đây đến truyền giáo ở Việt Nạm, không kể 31 tu sĩ Dòng Tên người Việt Nam:
    74 Bồ Đào Nha
    30 Ý
    10 Đức
    8 Nhật
    5 Pháp
    4 Tây Ban Nha
    2 Trung Hoa
    2 Áo Môn
    2 Ba Lan
    1 Gêne
    1 Hung Gia Lợi
    1 Illyrien
    1 Sarde
    1 Savoyard
    1 Thụy Sĩ
    1 Tiệp Khắc
    1 Tòa Thánh

    [37] Antonio de FONTE, Annua da Missam de Annam, viết tại Hội An ngày 1-1-1626, ARSI, JS. 72, f. 79r. - D. BARTOLI, Dell’ Historia della Compagnia di Giesu la Cina, Terza Parte, Roma, 1663, tr. 834.

    [38] Năm 1620, tại Hội An có 4 tu sĩ Dòng Tên sau đây :
    1) L.m. Pedro MARQUES (1575-1670) sinh tại Nhật do cha là người Bồ Đào, mẹ là người Nhật. Marques đến ở Đàng Trong 6 lần : 1618- 1626, 1637 1639, 26-2 đến 13-7-1652, 1653-1655, 1658 và 1670, đến ở Đàng Ngoài một lần : 1627-1630. Năm 1620 Marques là Bề trên các tu sĩ Dòng Tên tại Hội An. Ông cũng đến truyền giáo tại Hải Nam từ 1632-1635. Marques bị đắm tầu ở gần đảo Hải Nam và chết vào dịp đó (1670). Nhiều văn thư của ông về Đàng Trong còn giữ tại Văn khố Dòng Tên ở La Mã. Xem : ARSI, JS. 71, f. 397, 404 ; JS. 73, f. 124-169. - MARINI, Delle Missioni, tr. 378-389. - Relation des missions et des voyages des évêques vicaires apostoliques, es Années 1672, 1673, 1674 et 1675, Paris, 1680, tr. 18. 2) Thầy JOSEPH (1568- ?) người Nhật, nhưng chúng tôi không thấy các tài liệu ghi tên Nhật của Thầy. Joseph gia nhập Dòng Tên năm 1590, đến Đàng Trong hoạt động từ 1617-1639. Không rõ ông chết ở đâu, vào năm nào ?. 3) Thày Paulus SAITO (1577-1633) người Nhật, đến ở Đàng Trong từ 1616-1627, tới Đàng Ngoài cùng với L.m. Gaspar d’ Amaral từ tháng 10-1629 đến 5-1630, thụ phong Linh mục tại Áo Môn khoảng 1632 và tử đạo tại Nhật ngày 29-9-1633. 4) L.m. Francisco de PINA (chúng tôi đã nhắc tới tiểu sử của ông ở trên).

    [39] Đây là hai tài liệu viết tay bằng Bồ ngữ và La ngữ về cuốn giáo lý này : 1) João ROIZ. Anua de Chochichina do anno de 1620, viết tại Áo Môn ngày 20-11-1621, ARSI, JS. 72, f. 6r. : “No principio do catecismo se ensinava, e cantava a doutrina Xpão na lingoa da terra, pera q to los assi grandes como pequenos apodessem aprender, e as cousas mais principaes de nossa Santa feê que juntamente o Pe lhes ensinava, e declarava : asquaes acabadas lhes foi tambẽ ensinando que cousa era missa e confissão (...) Agora cõ ajuda de Deos e diligencia do Pe lhes foi facil aprenderẽ nas, pois ia astern em sua ling a, e cada día se ensinão em nossa lgreja vindo os minimos a doutrina todo o tempo que o Padre que sabe a lingoa, està em Failo”. 2) Gaspar LUIS, Cocincinensis missionis annuae Litterae, anni 1620, viết tại Áo Môn ngày 12-12-1621.AAS7, JS. 17, f.24r : “ Catechismus Concincinensi idiomate compositus multum ad animarum utilitatem contulit. Ejus ope et natu grandes domi Christiana dogmata, sollemnesque precandi formulas addiscere, memoriter tenere, et pueri quotidiano ad doctrinam concursu doctiores avadere”

    [40] João ROIZ, Annua de Cochinchina do anno de 1620, Pera N. Muv Rdo em Christo Pe Mutio Vitelleschi Preposito Geral da Compa de Jesu, ARSI, JS. 72, f. 2-16

    [41] Ibid., f. 4v

    [42] Ibid., f. 4v. 11r

    [43] Ibid., f. 4v.

    [44] Ibid., f. 6v.

    [45] J. ROIZ, ibid., f. 7r.

    [46] João ROIZ, ibid., f. 8r.

    [47] Ibid., f. 10r, 11r, 13r.

    [48] J. - L. TABERD, Dictionarium Latino - Annamiticum, Serampore, 1938, Appendice, MONTÉZON et ESTÈVE, Voyages et travaux des missionnaires de la Compagnie de Jésu, Mission de la Cochinchine et du Tinkin, Paris, 1858. - Eugène VEUILLOT, La Cochinchine et le Tonkin, 2e édition, Paris, 1861.

    [49] João ROIZ, ibid., fr. 10r.

    [50] Ibid., fr. 10rv, 12r

    [51] Ibid., fr. 10v.

    [52] Ibid., f. 15r.

    [53] Gaspar LUIS, Cocincinensis missionis annuae Litterae, anni 1620, ARSI, JS. 71, f. 23-27.

    [54] Ibid., fr. 23rv, 24.

    [55] Ibid., 25v. Ở f. 25r tác giả lại viết : Bancó.

    [56] Về tên Cristoforo có nhiều nơi viết khác nhau, ngay chính trên các bla bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào của ông cũng có khi đề là Christoforo có khi lại đề Christofle như chúng ta sẽ thấy.

    [57] Tratado da arte de navegar, pelo Rdo Pe Crìstovão brono, da Companhia, Anno Domini M...

    [58] Istruzione par facilitare il viaggio dell’Indie.

    [59] BORRI, Doctrina de tribus Coelis, Aereo, Sydereo, et Empireo, Opus Astronomis, Philosophis et Theologis favens, Ulyssipone, 1641, in - 40.

    [60] BORRI, Collecta astronomica, ex doctrina p. Christophori Borri, Mediolanensis, ex Societate Jesu..., Ulyssipone, 1631, 470 tr.

    [61] Về tiểu sử C. Borri, có thể đọc : SOMMERVOGEL, Bibliothèque de la Companie de Jésus, Nouvelle édition, Louvain, 1960, tìm chữ Borri. — C. B. MAYBON, Notice sur Cristoforo Borri et sur les éditions de sa “Relation”, trong báo Bulletin des Amis du Vieux Hué, năm 1931, tr. 269-276.

    [62] BORRI, Relatione della nuova missỉone delli PP. De’la Compagnia di Giesu, al regno della Cocincỉna, scritta dal Padre Christoforo Borri Milanese della medesima Compagnia, Roma, 1631, in — 12°, 231 tr. — BORRI, Relation de la nouvelle mission des Pères de la Compagnie de Jesus au royaume de la Cochinchine. Traduite de l’ Italien du Père Chritofle Borri Milanios, qui fut un de premiers qui entrèrent en ce Royaume. Par le Père Antoine de la Croix, de la mesme Compagnie. A Lille, De l'Imprimerie de Pierre de Rache, à la Bible d’Or, 1631, in - 12°, 233 tr. — về bản Pháp văn in ở Rennes cũng do Antoine de la Croix dịch, đầu đề bìa bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào cũng như cuốn xuất bản ở Lille, chỉ khác là do nhà xuất bản Jean HARDY. - BORRI, Relatio de Cocincina R.P. Christophori Borri e Societate Jesu, ex Italico latine reddita pro strena D.D. Sodalibus Inclytae Congregationis Assumptae Deiparae in Domo Professa Societatis Jesu Viennae Austriae. Excudebat Michael Rictius, in novo mundo, 1632, in - 8°, 142 tr. - BORRI, Historie van eene nleuwe Seyndinghe door de Paters der Societeyt Jesu in’t ryck van Cocincina. In’t Italiaens gheschreven door P. Christophorus Borri Melanois... Ende verduytscht door P. Jacobus Susius der selve Societeyt, Tot Loven, 1632, in - 12°, 203 tr. — BORRI, Relation von dem newen Konigreich Cochinchina... aus dem Welsch und Latein verseuscht Gedruckt zu Wien in Oesterreich bey Michael Riekhes, 1633, in - 8°, 142 tr. — BORRI, Cochinchina containing many admirable Rarities and Singularities of that countrey. Extracted out of an Italian Relation, lately presented to the Pope, by Christophoro Borri, that lived certaine yeeres there. And published by Robert Ashley, London, 1633.

    [63] A general collection of the best and most interesting Voyages and travels in all parts of the World... by Pinkerton, London, 1811, vol. IX, tr. 771-828.

    [64] Lt Col. BONIFACY trong BAVH, 1931, tr. 277-405.

    [65] Về vấn đề Hoa Lang xin coi thêm : - RHODES, Cathechismus, tr. 25, - M. SACCANO, Relation des progrès de la foi au royaume de la Cochinchine, tr. 2-3. — L.A. PONCET, L'un des premiers annamites, sinon le premier, converti au catholicisme, BAVH, tháng 1-3 năm 1941, tr. 85-91. - L. CADIÈRE, ibid.,tr. 95-96. - ARSI, JS.89 f. 545r - 547r. - NGUYỄN-HỒNG, Lịch sử Truyền giáo ở Việt nam, quyển 1, tr. 23, chú thích 4.
    :rose:
tducchau thích bài này.