06. (Tập 2)vancuong7975(xong)WIKI

11/11/15
06. (Tập 2)vancuong7975(xong)WIKI
  • Link PDF

    Link Google Docs

    Link Word Online


    Bá tước Norbe, anh nghĩ bụng, ta đã thấy viết đến ba bản nháp cho một bức thư hai chục dòng gửi ông đại tá của chàng ta, nếu trong đời chàng ta cứ viết được lấy một trang như ông Xanhcle, thì cũng đã là đại phúc.

    Vì thân phận chẳng quan trọng gì mấy nên qua lại không ai để ý, Juyliêng đi lại gần nhiều nhóm lần lượt; anh theo dõi từ xa nam tước Batông và muốn được nghe ông ta nói. Con người rất tài trí kia có vẻ băn khoăn, và Juyliêng thấy ông ta chỉ bình tĩnh trở lại khi đã tăm được ba bốn câu sắc bén. Juyliêng thấy hình như cái loại tài trí đó cần phải được thênh thang thì mới phát huy được.

    Ông nam tước không thể nào nói những lời vắn tắt; ông cần phải được nói ít ra là bốn câu, mỗi câu sáu đồng, để thành sắc sảo.

    - Con người này biện luận, chứ không phái là nói chuyện nói trò, có một người nào nói sau lưng Juyliêng. Anh quay lại và vui thích đến đỏ mặt lên khi nghe thấy nói đến tên bá tước Sanvê. Đó là con người tình tế nhất của thời đại. Juyliêng đã thường gặp tên ông ta trong cuốn Hồi ký Xanhtơ - Hêlen và trong những mẩu lịch sử do Napôlêông đọc cho người ta viết. Bá tước Sanvê ăn nói ngắn gọn; những ý kiến đột khỏi của ông là những ánh chớp, chính xác, sắc sảo và thậm thúy. Nếu ông nói về một chuyện gì, thi tức khắc người ta thấy cuộc bàn cãi tiến lên một bước. Ông đem những sự việc vào, nghe ông nói thật là thích tai. Ngoài ra, về chính trị, ông có những ý kiến trắng trợn, sấn sổ.

    - Tôi đây là người độc lập, ông ta nó với một ông đeo ba tấm huy chương, và rõ rệt là ông ta coi thường ông này. Tại sao người ta lại muốn tôi ngày hôm nay cũng vẫn ôm giữ ý kiến của sáu tuần trước? Nếu vậy, chả hóa ra ý kiến của tôi lại là kẻ chuyên chế áp bức tôi sao.

    Bốn chàng thanh niên nghiêm nghị vây quanh ông nhăn mặt chau mày; các vị đó không thích cái thể loại bông lơn. Ông bá tuớc thấy rằng mình đã đi quá trớn. May sao ông chợt trông thấy ông Balăng con người lương thiện, lương thiện giả mạo. Ông bá tước bèn hỏi chuyện ông ta: thiên hạ xán lại gần, họ hiểu rằng ông Balăng khốn khổ sắp bị hành hình. Nhờ công phu sử dụng luân lý và đạo đức, nên mặc dầu con người xấu xí kinh khủng, và sau những bước đầu trong xã hội thượng lưu khó kể lại, ông Balăng đã lấy được một người vợ rất giàu, nay chết rồi; sau đó lại lấy được một người vợ thứ hai rất giàu, mà người ta không thấy trong chốn xã giao. Ông ta hết sức khiêm tốn đều là có dè dặt đề phòng; ngày nào anh cũng tập bắn súng tay, anh là một trong những học trò giỏi của mấy ông thầy dạy võ khí trứ danh nhất. Hễ anh có được một giây phút rảnh rang, đáng lẽ dùng nó để đọc bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào như ngày trước, thì anh lại chạy đến trường tập cưỡi ngựa và đòi hỏi những con ngựa có tật hư nhất. Trong các cuộc đi rong chơi với ông thầy dạy cưỡi ngựa, hầu như chẳng lần nào anh bị quăng xuống đất.

    Ông hầu tước thấy anh là người được việc vì anh có cái nết làm việc mải miết, có cái đức im lặng, có trí thông mình, và dần dần ông giao phó cho anh tiến hành nốt tất cả những công việc kinh doanh hơi rắc rối. Trong những lúc mà lòng tham vọng cao xa của ông để cho ông được thư thả đôi chút, thì ông hầu tước tiến hành các công việc kinh doanh rất sáng suốt; vì có nhiều khả năng nắm được các tin tức, nên ông chơi trò hối đoái được may mắn luôn. Ông tậu nhà, tậu rừng; nhưng ông dễ cáu kỉnh. Ông cho đi hàng vài trăm luy, nhưng lại kiện tụng vì vài trăm quan. Những người giàu có mà hào hùng, tìm trong công việc kinh doanh một thú vui chứ không phải những kết quả. Ông hầu tước cần một người tham mưu trưởng biết sắp xếp tất cả mọi công việc tiền nong của ông theo một trật tự sáng sủa và dễ hiểu.

    Bà đơ La Môlơ, tuy tính tình mục thước đến thế mà đôi khi cũng chế nhạo Juyliêng. Sự bất ngờ, do tính dễ cảm xúc gây nên, là mối khiếp sợ của các bà lớn; nó là điều trái ngược hoàn toàn với nghi lễ xã giao. Có đôi ba lần, ông hầu tước bênh anh: Hắn dáng tức cười trong phòng khách của bà, nhưng hắn thành công rục rỡ trong văn phòng của hắn. về phần Juyliêng, thì anh nghĩ rằng đã nắm được bí mật của bà rồi bỗng ngừng bặt ngay lại, trong lòng phiền não vì nỗi cứ phải nói xấu tất cả mọi người, và tự lấy thế làm điều tội lỗi. Tính tình nóng nảy, tư tưởng Jăngxênit, và tin tưởng ở bổn phận phải có đức thương yêu của đạo cơ đốc, cuộc sống của ông trong xã hội thượng lưu là một cuộc đấu tranh.

    - Cái nhà ông linh mục Pira kia, mặt với mũi! có đơ La Môlơ nói, vừa lúc Juyliêng tiến lại gần tấm tràng kỷ.

    Juyliêng cảm thấy tức giận, nhưng dẫu sao cô nói cũng đúng. Ông Pira, là con người chính trực nhất của phòng khách, cái đó không ai chối cãi, nhưng cái mặt phát ban của ông, rối loạn vì những nỗi cắn rút của lương tâm, làm cho ông lúc này trông thật gớm guốc. Xem thế thì biết, không nên tin ở diện mạo, Juyliêng nghĩ thầm; chính trong cái lúc tâm hồn thanh cao của linh mục Pira tự trách một tội lỗi nhỏ, thì ông lại có vẻ mặt kinh khiếp; trong khi đó thì trên cái mặt của tên Napiê kia, cái tên do thám ai cũng biết rõ, người ta lại đọc thấy một niềm hạnh phúc trong treo và yên ổn. Ấy là ông linh mục Pira đã nhượng bộ rất nhiều với đảng phái của ông, ông đã mướn một nguời ở, ông đã ăn mặc rất tươm tất.

    Juyliêng nhận xét thấy có một cái gì lạ lùng trong phòng khách: đó là một sự chuyển động của tất cả mọi con mắt về phía cửa, và một sự im ắng đột ngột. Tên hầu báo danh ông nam tước đơ Tôly trứ danh, mà cuộc bầu cử vừa qua đã khiến mọi người phải chú ý. Ông nam tước chủ trì một tuyển cử đoàn: ông bỗng nảy ra ý kiến sáng ngời, là thụt đi những mẩu giấy vuông nho nhỏ, nó là những phiếu bầu của một phe phái. Nhưng, để bù lại cho nó khỏi hụt, ông lấy ra đến đâu lại thay vào đến đó bằng những mẩu giấy con con khác, mang một cái tên mà ông ưng ý. Cái hành vi quyết định đó được vài cử tri trông thấy, họ vội vàng đến khen ngợi nam tước đơ Toly. Con người hiền lành chất phác đến nay còn đương tái mét vì cái chuyện tày đình đó. Có những đầu óc lệch lạc đã thốt lên cái tiếng tù khổ sai. Ông đơ La Môlơ tiếp đón ông ta một cách lạnh lẽo. Ông nam tước tội nghiệp liền đánh bài chuồn.

    - Ông ta mà rời bỏ chúng ta nhanh chóng như vậy, là để đi đến nhà ông Côngtơ*, bá tước Sanvê nói; và mọi người cười ồ.

    Giữa đám mấy vị đại lãnh chúa câm lặng, và những kẻ âm mưu vận động, phần nhiều là có phế tật, nhưng tất cả đều là người tài trí sắc sảo, kéo nhau lần lượt tối hôm đó đến phòng khách của ông đơ La Môlơ (người ta nói đến ông cho một bộ nào đó), cậu bé Tăngbô xuất trận lần đầu. Cậu ta chưa có những cái nhìn tinh tế, nhung cậu ta tự đền bù, như ta sẽ thấy đây, bằng những lời lẽ cứng cỏi.

    - Tại sao không kết án cái thằng đó mười năm tù? cậu ta nói lúc Juyliêng đến gần nhóm của cậu; những loài rắn rết là phải nhốt trong đáy sâu một cái ngục tối dưới đất; phải để chúng nó chết trong bóng tối, kẻo nọc độc của chúng phấn khích lên và lại càng nguy hiểm. Phạt vạ hắn một nghìn êquy để làm gì? Hắn nghèo, được rồi, càng hay: nhung phe đảng của hắn sẽ bỏ tiền ra trả hộ hắn. Đáng lẽ phải năm trăm quan phạt vạ và mười năm ngục tối.

    Ối trời ơi! người ta nói đến tên đại ác nào vậy? Juyliêng nghĩ bụng, và thán phục cái giọng hàng hái và những cử chỉ nhát gừng của anh bạn đồng sự. Bộ mặt nhỏ bé gày guộc và hom hem của cậu cháu yêu của ông học sĩ, lúc đó thật là gớm guốc. Một lát sau Juyliêng được biết ngay rằng đó là nói về nhà thi sĩ lớn nhất của thời đại*.

    - Chà, quân ác độc! Juyliêng kêu lên hơi to, và những giọt nước mắt hào hiệp rưng rưng trên mắt anh. Chà, thằng nhãi con khốn nạn! anh nghĩ thầm, rồi ta sẽ đáp trả cho mày lời ăn nói đó.

    Ấy vậy mà, anh nghĩ, đó là những quyết tử quân của phe đảng mà ông hầu tước là một trong những thủ lĩnh! Và con người danh tiếng mà hắn vu cáo kia, nếu chịu tự bán mình, ta không nói là cho nội các bất tài của ông đơ Necvan*, nhưng cho một trong những ông bộ trưởng tạm gọi là lương thiện mà chúng ta đã trông thấy kế tiếp nhau, thì con nguời đó đã tích lũy được biết bao nhiêu huân chương, biết bao nhiêu chức vụ nhàn hạ!

    Linh mục Pira làm hiệu từ xa cho Juyliêng; ông đơ La Môlơ vừa nói nhỏ một lời với ông. Juyliêng lúc đó đương lắng nghe, đôi mắt nhìn xuống, những lời kêu rên của một vị giám mục, nhưng khi anh rút ra được và có thể lại gần ông bạn, thì anh lại thây ông đương bị cậu bé Tăngbô khả ố xoắn chăt lấy. Tên quái vật bé con đó thù ghét ông như là nguồn gốc sự ân sủng của Juyliêng, và lại đến tán tỉnh ông.

    Bao giờ cái thân già mục nát đó chết đi cho chúng ta được rảnh nợ? Chính bằng những lời lẽ rắn rỏi như lời kinh thánh đó, mà anh văn sĩ bé con kia lúc đó đương nói về huân tước Holen* đáng tôn kính. Hắn có cái tài biết rất tỏ tường tiểu sử những người đang sống, và hắn vừa mới điểm qua nhanh chóng tất cả những người có thể hy vọng đạt tới đôi chút thế lực dưới triều quân nước Anh.

    Linh mục Pira đi sang một phòng khách bên cạnh Juyliêng đi theo ông.

    - Ông hầu tước không thích những người viết lách làng nhàng, tôi dặn trước anh điều đó; đó là mối ác cảm duy nhất của ông. ông tha hồ biết tiếng La tinh, tiếng Hy Lạp, nếu có thể, lịch sử Ai Cập, lịch sử Ba Tư v.v... ông sẽ trọng vọng anh và sẽ che chở anh như một nhà bác học. Nhưng chớ có đi viết một trang bằng tiếng Pháp, và nhất là về những chủ đề nghiêm trọng và ở trên cái vị trí của anh trong xã hội, vì ông sẽ gọi anh là đồ viết lách lăng nhăng và sẽ gớm anh. Anh ở trong dinh thự một vị đại lãnh chúa, mà sao anh lại không biết câu nói của công tước đơ Caxtro* về đ’Alambe và Ruxô: Cái đồ ấy muốn lý luận về mọi chuyện, mà không có lấy một nghìn ê-quy lợi tức hàng năm?

    Chẳng giấu ai được chuyện gì, Juyliêng nghĩ bụng, ở đây cũng như ở chủng viện! số là anh có viết tám hay mười trang gì đó, lời văn rất khoa trương: đó là một thứ văn chươg ca tụng lịch sử ông cụ thiếu tá quân y, theo lời anh nói, đã làm cho anh thành người. Mà quyển vở đó, Juyliêng nghĩ bụng, vẫn luôn luôn đục cất khóa hẳn hoi! Anh liền lên buồng riêng, đốt bản thảo của anh đi, rồi trở xuống phòng khách. Những quân vô lại sắc sảo đã đi khỏi, chỉ còn lại những con nguời đeo huy chương.

    Chung quanh cái bàn ăn, mà bọn gia nhân vừa mới khiêng lại, có thức ăn dọn sẵn sàng, thấy có bảy tám người đàn bà rất quý phái, rất sùng tín, rất điệu bộ, tuổi chừng ba mươi đến ba mươi nhăm. Bà thống chê đơ Fervac sắc sảo bước vào và xin lỗi vì đến muộn quá. Lúc đó đã quá mười hai giờ đêm, bà ta đến ngồi bên cạnh bà hầu tước. Juyliêng vô cùng xúc động; bà ta có đôi mắt và cách nhìn của bà đơ Rênan.

    Nhóm cô đơ La Môlơ vẫn còn đông đúc. Cô đương cùng các bạn mải chế nhạo chàng bá tước đơ Tale* khốn khổ. Đó là con một người Do Thái trứ danh nọ, nổi tiếng vì những của cải ông ta đã thu hoạch được bằng cách cho các vua chúa vay tiền để tiến hành chiến tranh chống nhân dân các nước. Người Do Thái vừa mới chết, để lại cho ông con mười vạn ê-quy lợi tức hàng tháng, và một cái tên tuổi, than ôi, được nhiều người biết qua! Cái tình huống đặc biệt đó đáng lẽ đòi hỏi sự giản dị trong tính cách, hoặc rất nhiều sức cương nghị.

    Khốn thay, chàng bá tước chỉ là một người ngây ngô, có tất cả các thứ họm hĩnh mà những kẻ xu nịnh gieo vào đầu óc chàng ta.

    Ông đơ Cayluyx cho rằng người ta đã làm cho chàng ta quyết ý dạm hỏi cô đơ La Môlơ (cô này đương được hầu tước đơ Croađomoa săn đón, hầu tước sắp được lên công tước với mươi vạn livrơ lợi tức hàng năm)

    - Ồ, đừng nên buộc tội anh ta có một quyết ý, Nơrbe nói một cách thảm thương.

    Cái mà anh chàng bá tước đơ Tale tội nghiệp kia thiếu thốn nhất, có lẽ là khả năng có quyết ý. về phía đó của tính cách, chàng ta có thể xứng đáng làm vua. Luôn luôn xin ý kiến của tất cả mọi người, chàng ta không có can đảm theo một lời khuyên nào đến nơi đến chốn.

    Cứ riêng cái tướng mạo của chàng ta thôi, cô đơ La Môlơ nói, cũng đủ để gây cho cô một niềm vui sướng muôn đời. Đó là một sự hỗn hợp lạ lùng của nét lo âu với nét thất vọng; nhưng thỉnh thoảng người ta cũng nhận thấy rõ rằng ở đó những ngọn trào đột khởi của vẻ oai vệ và của cái giọng quyết đoán mà con người giàu nhất nước Pháp phải có, nhất là khi người đó thân hình khá cân đối và chưa đến ba mươi sáu tuổi. Anh ta láo xược một cách rụt rè, chàng đơ Croađonoa nói. Bá tướv đơ Cayluyx, Norbe và vài ba chàng thanh niên có ría mép thả sức mà mỉa mai châm biếm chàng ta, mà chàng ta chẳng hề ngờ tới, và cuối cùng, khi một giờ đã điểm, họ tống khứ chàng ta đi.

    - Có phải là như ng con ngựa Ả Rập tuyệt vời của ông đương đợi ông ở ngoài cửa giữa lúc trời mưa như thế này không? Norbe nói với anh ta.

    'Không, xe của tôi mới thắng một con ngưa rẻ tiền hơn nhiều, chàng đơ Tale trả lời. Con ngựa bên trái, tôi mua mất năm nghìn quan, và con bên phải chỉ trị giá có một trăm Iuy; nhưng xin ông tin cho rằng chỉ đêm tối mới thắng con đó thôi. Vì nước kiệu của nó hoàn toàn giống nước kiệu của con kia.

    Ý kiến của Norbe lam cho chàng bá tước nghĩ thầm rằng một con người như chàng ta phải ham mê ngựa thì mới là tao nhã, và không nên để cho ngựa của mình bị ướt át, chàng ta bèn ra về, và các chàng kia một lát sau cũng đi ra, vừa đi vừa nhạo báng chàng ta.

    Như vậy là, Juyliêng nghĩ bụng khi nghe thấy họ cười ở cầu thang, ta đã được trông thấy cái cảnh cực đoan tương phản với tình huống của ta! Ta không có lấy hai chục luy lợi tức mỗi giờ, thế mà người ta thế giễu hắn... Trông thấy như vậy, đủ khỏi bệnh thèm muốn.

    CHƯƠNG V

    TÍNH DỄ CẦM VÀ MỘT BÀ LỚN SỦNG TÍN

    Ở đó, một ý kiến hơi sôi nổi một chút là có vé một sự thô bỉ, vì người ta đã quen với những lời phang. Vô phúc cho kẻ nào có sáng kiến khi nói năng.

    FÔBLA*

    Sau bao nhiêu tháng thử thách, đây là tình trạng của Juyliêng cái hôm người quản gia đưa cho anh góc thứ ba của số tiền lương của anh. Ông đơ La Môlơ đã giao cho anh việc theo dõi công việc quản lý những đất đai của ông ở Brơtanhơ và ở Normăngđi. Juyliêng đi đi về về những nơi đó luôn. Anh được ủy nhiệm phụ trách việc thư từ liên quan đến vụ kiện trứ danh với tu sĩ đơ Frìle. Ông Pira đã nói cho anh biết về vụ đó.

    Dựa vào những lời ghi chú ngắn ngủi mà ông hầu tước viết thảo bên lề những giấy tờ đủ loại gửi đến cho ông, Juyliêng biên soạn những bức thư hầu hết là được ký.
  • Chia sẻ trang này