1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

07. Phần 07 -hangoc(done)

15/8/15
07. Phần 07 -hangoc(done)
  • :rose:Phần trong dấu ngoặc [] là phần chú thích của team đánh máy, khi soát các bạn kiểm tra các từ đó đã đúng hay chưa rồi xóa đi phần chú thích đó nhé.:rose:


    thú vui ảo-mộng kia rồi, thì hai người sẽ tìm một chốn tĩnh-mịch ở một phương xa, để yêu nhau, để quên cuộc đời rộn-rịp. Tội-nghiệp! Sửu chỉ hy-vọng sẽ thay đổi được tính nết người yêu, Sửu chỉ ước ao có thế: “Một túp nhà tranh và một quả tim!”.

    “Nhưng lòng người đàn-bà một khi đã dày-dạn vì trôi-nổi phong trần, tình của người đàn-bà đến lúc đã coi như là một hàng để đổi-chác lấy những sự cần dùng của đời vật-chất, thì lòng kia đã thành sắt đá, chẳng còn biết chi là chung-thủy. Sửu thật dạ yêu nàng mà nàng vẫn đành tâm hờ-hững. Nàng chỉ biết Sửu là một người đàn-ông giầu có, cần thiết cho cái đời phóng-đãng của nàng, cũng như bao nhiêu những đàn-ông khác nàng đã gặp, đã phá tan hạnh-phúc của người ta, đã làm cho điêu-đứng, ê-chề, đau-đớn mà vẫn xem thường, không cần để ý. Nàng cho là ở đời, những hạng đàn-ông si-tình kia không hiếm: bỏ người này đã có người khác thay chân nối tiếp nhau mà làm cho đời vui của nàng vĩnh-viễn.

    “Tôi đã có lần đọc qua truyện một người thiếu-nữ bị một người đàn-ông mà nàng yêu lần thứ nhất trong đời lừa-dối, làm lầm-lỡ cả một đời, đến nỗi về sau sa chân vào bước giang hồ, nàng thề sẽ báo thù bọn đàn-ông cho đến hết đời, sẽ dùng sắc đẹp mà làm say-đắm, làm cho điêu-đứng bất cứ anh chàng nào không may đã trót yêu nàng. Chẳng biết có phải Angèle cũng thuộc về hạng đàn-bà sâu cay, ghê-gớm ấy không?

    “Sửu bỏ chốn gia-đình êm-ấm để theo đuổi Angèle. Chàng thuê nhà riêng để cùng với nàng, nhưng nhiều hôm nàng bỗng bỏ ra đi không nói với Sửu một lời, rồi đột-nhiên nàng lại trở về tươi-cười tìm một cớ rất vô-lý giải nghĩa cái vắng mặt của nàng, mà lần nào Sửu cũng sẵn lòng tin được. Nhưng hình như Sửu khổ-sở ngấm-ngầm mà không ai hiểu. Sửu không phải là người có tính ghen-tuông mà lắm lúc cũng phải tức tối điên-cuồng về cử-chỉ của người yêu. Có hôm, tôi gặp Sửu đi đầu trần dưới mưa, đi tìm Angèle khắp nơi, khắp chốn, Sửu gặp được tôi trong một tiệm rượu liền kéo tôi đi tìm hộ. Chúng tôi gặp nàng say rượu, lả lơi cười nói giữa một tụi thiếu-niên ngồi vây lấy nàng trước những chai “sâm-banh” cạn ráo. Hôm đó, nếu không có tôi nắm giữ tay anh thì có lẽ anh đã xô-đổ bàn rượu kia xuống đất, mà đập vỏ chai vào đầu những người ngồi cạnh Angèle.

    “Hình như đêm hôm đó, lúc về nhà, Sửu đã phải thiết-tha xin lỗi Angèle, nếu không nàng sẽ bắt tay Sửu ra đi, nàng sẽ vứt bỏ, giày-xéo lên những quần áo đắt tiền, đồ trang-sức quý giá, mà ra đi không thèm quay cổ lại. Cơn tức-giận, tính kiêu-căng, lòng tự-ái của người đàn-ông đối với đàn-bà nhiều lúc chỉ là những cái giẻ rách mà họ đêm lau chùi đôi giầy hay bàn chân họ một cách thản-nhiên.

    “Lúc này đã đến lúc Sửu bước vào vòng quẫn-bách, Sửu đã bán luôn hai chiếc nhà, lại còn lạm vào mấy ngàn bạc nợ. Thế mà đến phút cuối cùng Sửu mới nói cho Angèle biết. Angèle đón cái tin ấy như một cái tin nàng đã biết trước. Nàng nghe những lời than-thở, hối-hận của Sửu một cách lơ-đễnh rồi nàng lạnh-lùng nói:

    “— Hết thì chúng ta đi xứ khác chịu khó làm lụng nuôi nhau vậy!

    “Sửu ôm lấy Angèle mà hôn-hít điên cuồng. Ước nguyện của anh lúc này đã toại. Anh nghèo rồi, nhưng có hề gì, miễn là Angèle yêu anh, miễn là lúc này anh được nghe chính mồm nàng nói:

    “— Chúng ta bỏ Hà-nội đi tìm một xứ xa làm lụng mà nuôi nhau.

    “Thế rồi anh thu vén được gần nghìn bạc, định đưa Angèle vào Saigon, vì ở đấy anh nhiều bạn-bè có thể giúp anh kinh-doanh nhiều việc.

    “Chuyến xe lửa tốc-hành vào Nam, đêm ấy chỉ còn 15 phút nữa là chạy, thế mà đã gần một giờ Sửu đợi Angèle ở nhà ga lớn. Còn mười phút... ruột Sửu nóng như cào, hai chiếc vé lấy sẵn rồi, Sửu cầm chặt ở tay như những vật thiêng-liêng, quý-hóa có thể đưa người ta đến những chốn hạnh-phúc vững-bền. Hành-khách vội-vàng, hấp-tấp chen nhau lấy vé, xô đẩy, hò hét om-xòm. Tôi trông mặt Sửu lúc bấy giờ mà thương-hại: Sửu như kẻ không hồn, mắt sâu hoắm thờ-thẫm trông ngóng Angèle, mà nào đã thấy bóng nàng. Còn năm phút! Người hành-khách cuối cùng chậm nhất đã đưa vé cho người ta cặp. Sửu run lên như sốt rét, bất cứ thấy chiếc xe nào đỗ trước cửa ga cũng cúi xuống nhìn. Rồi một tiếng còi như xé tâm can người thất-vọng, đoàn xe chuyển bánh, đi vào đêm tối.

    “Tôi và Sửu chán-nản thuê xe đi tìm Angèle khắp chốn, thì gặp nàng đang nằm cạnh bàn đèn một người bạn gái lấy tây. Angèle mơ-màng nói:

    “— Saigon xa lắm anh ạ! Thôi để ta tìm một tỉnh nào gần đây... gần Hà-nội...

    “Lần này thì Sửu không còn chịu được nữa. Sửu ứa nước mắt lần đầu khóc cái đời tan nát, vô hy-vọng của mình, rồi đi thẳng. Lần này Sửu đi Saigon, mà đi thực, đi một mình, đi mà vẫn chưa quên được người ác-phụ. Một người bà con của tôi ở Saigon thường gửi thơ về cho tôi có nói nhiều lần gặp Sửu vẻ mặt buồn-bã, chán-nản, lê-la ở các chốn ăn chơi. Khốn-nạn cho anh! Hình-ảnh Angèle vẫn theo anh mà ám-ảnh. Đời anh thế là hết, chỉ còn biết lăn-lóc thâu đêm suốt sáng để quên, mà nào có dễ quên!

    “Gần một năm sau, Sửu lại trở về Hà-nội. Anh đến tìm tôi ở nhà này, đưa cho tôi xem một bức thư của Angèle, một bức thư lời lẽ cảm-động, năn-nỉ xin Sửu tha lỗi cho mình, xin Sửu quên những điều bạc-bẽo nàng đối với Sửu xưa kia, vì nàng ốm nặng. Trong khi nằm ở một bệnh-viện tư, bị bạn bè rẻ-rúng, người tình xa lánh, Angèle ôn lại quãng đời qua, nhận thấy những điều lầm-lỗi của mình, nghĩ thương-hại Sửu là người chung-tình hiếm có, nên mới viết thơ xin lỗi.

    “Tôi trông Sửu lần này võ gày, hốc-hác, mặt già đi nhiều lắm, và có vẻ chán-nản vô cùng. Sửu nói với tôi anh về chuyến này là muốn thăm nhà một lần cuối cùng nữa, rồi anh đi hẳn, không bao giờ còn gặp tôi nữa.

    “Lần này là lần thứ hai, tôi thấy anh Sửu khóc. Anh kể chuyện với tôi hôm ở Saigon về, một đêm kia đi qua nhà, anh đứng trên hè trông qua cửa nhà hé mở. Anh thấy ông cụ anh buồn-bã, một đàn em nhỏ đương xúm-xít bên bà cụ anh, người nào vẻ mặt cũng lo-lắng, âu-sầu. Thế là anh đi thẳng, không bao giờ còn dám bước qua ngưỡng của cái gia-đình thân-mật yên-vui mà anh đã gây nên sóng-gió, để phiền để tủi cho mẹ cha, để thương nhớ cho đàn em nhỏ. Anh nhận thấy tội anh to lắm, anh đưa nhà anh vào cuộc đời túng bấn khó-khăn. Anh tự xét không còn đáng được tha-thứ, đáng được lấy lại cái địa-vị xưa kia giữa những kẻ thân yêu của gia-đình mình nữa.

    “Số tiền lần trước anh đem đi Saigon, chuyến này về cũng chẳng còn được là bao. Anh đã chẳng làm thêm được đồng nào, mà lại ăn chơi hoang rộng nữa thì giữ sao cho được lâu bền. Đến Hà-nội, việc đầu tiên của anh là đi thăm Angèle ở bệnh-viện. Anh mua một bó hoa thực đẹp, đem đến cho Angèle. Nàng trông thấy anh hình như hối-hận lắm, cầm lấy bó hoa úp lên ngực, lên mặt mà che hai giọt lệ. Hai người cảm-động nhìn nhau mà không nói được câu nào.

    “Sửu đi tìm thuê một gian nhà thật xa thành phố, ở tận ngoại-ô rồi đưa Angèle về đó cho nàng dưỡng bệnh. Anh nuôi một đứa ở nhỏ để hầu hạ và trông nom thang thuốc cho Angèle. Lúc này, nàng đã cảm hết tấm tình chân-thật, thanh-cao của người ngày xưa mà nàng hất-hủi. Nàng luôn luôn xin Sửu tha thứ cho nàng, và nàng nguyện sau này sẽ đem hết tình yêu để báo đáp lại ơn chàng. Angèle lúc này lại mệt nặng. Mỗi lần đi mưa thuốc cho nàng, Sửu thường ghé tới thăm tôi. Anh buồn rầu mà nói với tôi:

    “— Tại sao bây giờ Angèle mới biết thương tôi; mới biết hối? Bây giờ đời tôi có còn gì nữa đâu, tôi thấy tâm-hồn mỏi-mệt, trống-rỗng lắm rồi... cái nghèo lại sắp đến nay mai để giày-vò cho thêm nhầu nát hai quả tim đã héo-hắt... còn trông mong gì ở tương-lai nữa?

    “Thế rồi, một bữa kia tôi được tin anh Sửu chết: anh tự thắt cổ mà chết bên cạnh giường bệnh của Angèle. Angèle cũng vì khiếp sợ mà chết ngất đi, đến lúc tỉnh dậy nàng kể lại:

    “Hôm ấy Sửu đi chơi về mua cho nàng một bó hoa rồi rải-rắc khắp giường nàng, Sửu vui-vẻ lạ thường, làm cho Angèle phải ngạc-nhiên lo-sợ. Tối đến, đi ngủ, Sửu còn hôn Angèle, rồi đến đêm khuya, Angèle chợt tỉnh giấc thì đã thấy một cái thây treo lủng-lẳng trước mắt mình. Nàng lạnh hồn, chực kêu người đến cứu mới sực nghĩ ra rằng: cả nhà có mỗi một thằng đầy-tớ nhỏ thì Sửu đã cho về quê từ buổi sáng. Lúc ấy, trước cái thây ma, chỉ có một mình nàng mà lại ở vào vùng vắng-vẻ, hẻo-lánh, xung-quanh nhà không có ai là hàng xóm. Trong mình đang ốm yếu sẵn, Angèle không thể nhắc mình mà chạy đi đâu được, đành nằm đấy mà trông cái thây ma ghê-gớm ấy một mình, rồi, vì sợ quá mà nàng chết thiếp đi. Từ đấy, bệnh nàng càng thêm trầm-trọng, nàng nhiều lần mê-man, hoảng-hốt, điên-cuồng, nhắc đến tên Sửu luôn và hình như cũng trông thấy Sửu đứng ở đầu giường mà oán trách. Rồi một buổi sáng mai, Angèle cũng từ trần. Đời nàng lúc sống biết bao kẻ đón người đưa, mà đến lúc chết không có một người bạn nào biết tin mà đưa nàng lấy một vài bước đường về nơi yên-nghỉ cuối cùng. Bây giờ... trong các chỗ ăn chơi, người ta không ai nhắc đến tên Sửu và Angèle nữa, mà biết đâu hiện giờ lại không có vài ba cặp trai gái khác đang đi trong những vết chân để lại của hai người đó, trên con đường nguy-hiểm ngày xưa...”.

    Đêm đã khuya mà từ lúc nghe chuyện anh Phấn, tôi không sao chợp mắt được. Cậu chuyện lạ-kỳ kia cứ làm cho tôi trằn-trọc suốt đêm. Tôi nghe rõ từng tiếng chuông của nhà thờ lớn từ xa đưa lại, ngân-nga, lạnh-lẽo trong đêm thanh. Rồi tôi nằm đấy mở mắt, hút thuốc cho qua thì giờ mà chờ sáng.

    =====

    THẰNG HÔM ẤY

    Anh Thân,

    Nếu từ xưa đến nay tụi chúng ta đều coi sự “phải lấy vợ” như mắc một cái nạn, thì lúc này tôi có thể nói với anh:

    — Tôi vừa thoát nạn!

    Có một nhà văn đã viết một câu rất ngộ-nghĩnh: “Người ta ở tù còn có hạn chứ lấy vợ rồi biết khi nào cho mãn hạn?”. Câu ấy thực đã tỏ hết những nông-nỗi đáng lo, đáng sợ của sự lấy vợ, lấy chồng. Tôi xin quỳ xuống đất, ngửa mặt lên trời, cảm ơn Trời Phật đã giun-giủi, đã xui-khiến cho tôi vừa khỏi vướng vào vòng “tù vợ”.

    Tù vợ! viết đến hai chữ này, tôi lại sực nhớ đến vẻ mặt xanh-xao, hốc-hác của anh Linh năm ngoái, lúc anh đến thăm anh em chúng mình ở nhà trọ, sau khi anh lấy vợ được vài năm. Anh còn nhớ câu trả lời của hắn ta khi chúng mình hỏi thăm đến “bà đầm” của hắn đấy chứ?

    — Ồ “ma-phăm”? Đẻ luôn luôn... ốm quặt-quẹo thuốc quanh năm... ghen như chết!

    Hẳn anh còn nhớ cái giọng chán-nản vô cùng của Linh lúc đó với cái dáng đi thất-thểu như “ma bùn”, mặt ngơ-ngác như anh thua bạc, như anh tù đói vừa mới ở nhà pha ra đấy chứ? Anh có còn nhớ tối hôm đó sau khi chúng mình mời hắn chén cơm ở Hàng Buồm, rồi mời hắn đi “nhảy”, mặt hắn buồn thiu mà cười lạt với chúng mình:

    — Nhảy à? Xin mời các bác... đây “vợ con” rồi! Nhảy nhót quái gì nữa.

    Thì ra, nếu người ta “vợ con rồi!” là người ta phải “cai” hết cả những thú vui chơi của cái tuổi trẻ đáng yêu, đáng quý. Người ta phải vùi sâu chôn chặt cái buổi đời sáng-sủa, tươi cười, để tìm về với những ngày tối-tăm đầy sự lo-âu, đầy những sự phiền-hà, vụn-vặt, làm cho người ta chán-ngán, lạnh-lùng với mọi việc ở đời. Ghê-gớm không! Anh Thân! Ai có ngờ mới ba năm trời xa nhau mà Linh đã thay đổi hết cả tính-tình như thế được? Ai có ngờ cái anh học-trò nghịch như ranh, tán gái như ma, diện nhất tụi chúng mình, mới năm kia, chiều đến còn chải cái đầu hai giờ đồng-hồ để đi lượn phố, mỗi năm phút lại đứng trước gương, sửa lại “ca-vát” và “côn” cho ngay-ngắn, lại có ngày lắc đầu nói với chúng ta cái câu làm mết hết can-đảm này:

    — Ồ “ma-phăm”? Đẻ luôn luôn... ốm quặt-quẹo thuốc quanh năm... ghen như chết!

    Tôi viết cho anh đến đây lại phải dừng bút, vì tôi vừa nghe xa-xa có tiếng pháo cưới nổ ran. Mùa này là mùa cưới anh ạ, ở cái tỉnh nhỏ xíu của tôi mà từ bữa bắt đầu có gió lạnh thổi tới nay, hình như cũng đã có bốn, năm đám cưới liền liền rồi đấy! Trời! Nếu có anh Linh đây, tôi sẽ dắt anh đến nhà những anh “rể mới” mà giới-thiệu với họ từng người một:

    — Các anh mở mắt ra mà xem! Đây là một người “có vợ” đã ba năm. Ba năm trước anh ta là một chàng trẻ tuổi lanh-lợi, vui-vẻ vô cùng, trong bữa tiệc cưới, anh ta đã nói với bạn thân một cách tự-phụ: “Tôi là một người sung-sướng nhất đời”. Bây giờ, các anh xem lại...

    Nếu tôi có thể làm như thế được, thì có lẽ những “chú rể sung-sướng” của tôi đến cụt hứng, ghê hồn, lạy vợ tám-mươi lạy, mà xin nhập bọn vào cái hội “suốt đời không vợ” của anh em ta mất.

    Tôi kể-lể dài dòng từ nãy đến giờ chắc anh nóng ruột lắm đấy, nhưng tôi phải nói thế để tỏ hết cái vui sướng của người ngoài cuộc bao giờ cũng ích-kỷ, mạnh mồm, thấy mình không bị vào tròng, thì cười, thì chế, thì “thương thay” những người xấu số.

    Rồi bây giờ tôi mới kể đến câu chuyện “thoát nạn” đến buồn cười của tôi cho anh biết. Anh đọc thư xong phải tìm đến anh Dương, anh Bật... đưa cho các anh ấy xem luôn bức thư này và bảo các anh ấy chung tiền đi ăn uống, đi “nhảy” hay “đập” một tối cho long-trọng để mừng cho tôi vẫn giữ được lời hứa với hội, vẫn “trung-thành” với hội và chúc cho hội ta được vững bền “trường-thọ với giang-san”. Hôm các anh tiễn chân tôi ra ga, các anh thì thầm với nhau những gì tôi biết hết, nhưng chỉ mỉm cười, tôi biết anh Thân đã đọc trộm bức thư của nhà tôi gửi cho tôi giục về đi xem mặt vợ, rồi loan báo cả tụi hay tin ấy. Vì thế nên các anh khúc-khích cười với nhau đắc-chí, các anh khinh tôi ra mặt, nhưng vẫn để bụng, để xem kết-cục ra sao. Thì kết-cục, tôi vẫn xứng-đáng là bạn các anh, anh Thân ạ. Anh còn lại gì nhà tôi, các cụ thì cổ-hủ chỉ muốn cho tôi nhanh chóng thành gia-thất để có cháu bồng, nhưng chính là để cho “yên chuyện”, các cụ khỏi phải lắng-đắng ngày đêm lo-nghĩ về thằng con lông-bông ngang-ngạnh. Hình như các cụ đã dò được một đám — cố nhiên là “con bé” ngoan-ngoãn, hiền lành, hay làm, hà-tiện — cho tôi, các “bô” ưng ý lắm rồi, nên năm, bảy lần viết giấy gọi về xem mặt để lo-liệu cho xong đi. Tôi thì chối như chối chết, lần nào cũng bảo bận học, bận thi mà các cụ cũng không nghe. Bất-đắc-dĩ lần này tôi phải về qua để liệu xếp cái chuyện ấy cho khỏi rầy-rà, bận-bịu.

    Chuyến tầu hôm ấy đông, chật lạ. Tôi bước lền chẳng còn một chỗ hở để ngồi, đành đứng ngoài chỗ cạnh bực đứng lên mà chờ cho tầu chạy một vài ga cho dãn người. Mà chính tụi trẻ:rose: