07 chương 6 -hangoc (done)

15/8/15
07 chương 6 -hangoc (done)
  • CHƯƠNG 6

    BỊ QUYẾN RŨ BỞI SỰ HỖN LOẠN


    Từ lúc còn là sinh viên ở London vào những năm đầu thập niên 1950, George Soros đã quan tâm đến cách mà thế giới hoạt động như thế nào. Ông hy vọng là không chỉ suy nghĩ về những vấn đề lớn thuộc đời sống mà còn có những đóng góp quan trọng cho tri thức con người nữa. Karl Popper, người thầy của ông, đã cho ông cảm hứng về những ý tưởng to lớn, về phát triển một ý đồ triết học tầm cỡ. Ý đồ ấy có thể làm lợi cho nhân loại và người đưa ra ý đồ ấy cũng có lợi. Theo lời người bạn vong niên của ông, Byron Wien, Soros tin rằng “nếu bạn có thể xác định các nỗ lực của mình càng chính xác trong trừu tượng thì khi đưa ra thực tế, bạn sẽ càng thành công.”

    Cuối cùng thì mối quan tâm của Soros trên những vấn đề trừu tượng sẽ dẫn đến vấn đề cụ thể hơn là các thị trường tài chính hoạt động như thế nào. Nhưng muốn hiểu lý thuyết của ông về các thị trường tài chính thì phải bắt đầu từ lý thuyết tổng quát của ông về đời sống và xã hội. Có một từ là chìa khóa cho các tư tưởng của ông.

    Cảm nhận.

    Nhiều người cùng đặt ra một câu hỏi: Đời sống là như thế nào? Tại sao ta lại ở đây? Vạn vật - rộng lớn như vũ trụ, trí óc, nhân loại - hoạt động như thế nào?



    Dừng lại trước các câu hỏi ấy một lúc rồi người ta lại tiếp tục với cuộc sống hàng ngày, với những vấn đề cụ thể như chăm sóc gia đình, kiếm sống, nhớ không quên đổ rác.

    Tuy nhiên các triết gia đạt ra những câu hỏi ấy trong nghiên cứu nhân sinh của họ. Và George Soros muốn trở thành một triết gia.

    Không phải là có một sự kiện độc nhất nào đã làm nảy sinh lòng ham mê triết học đối với Soros, và lòng ham mê ấy đã có từ lâu. “Ngay từ khi tôi nhận thức được sự tồn tại của tôi,” ông viết trong chương mở đầu của cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào của mình nãm 1987, Giả kim thuật Tài chính, “tôi đã say mê tìm hiểu nó và tôi xem trí tuệ của chính tôi là vấn đề cốt lõi cần phải tìm hiểu.” Điều này lúc ấy là tia lửa lóe lên ban đầu. Nhưng như cậu thanh niên Soros đã nhận thấy ngay từ lúc đầu, việc tìm ra manh mối những bí mật của cuộc sống gần như bất khả thi.

    Vì một lý do đơn giản: Ngay chỉ bắt đầu tìm hiểu mình là ai, mình như thế nào thì cũng phải nhìn vào chính mình một cách khách quan.

    Khó khăn là ở chỗ chúng ta không làm được như vậy. Đấy là một phát hiện đầy kịch tính đối với George Soros. “Điều mà ta tưởng tượng là một phần của điều ta suy nghĩ, do đó ý nghĩ của chúng ta thiếu đi một điểm chuẩn độc lập để có thể đánh giá - nó thiếu tính khách quan.”

    Thật vậy, không có được điểm chuẩn độc lập ấy, người ta không thoát ra được cái tôi, không thể nhìn thế giới qua một lăng kính không làm biến dạng. Từ đầu những năm 1950, Soros đã đi đến kết luận là “về cơ bản, tất cả cách nhìn về thế giới cửa chúng ta đều ít nhiều có khiếm khuyết hay bị méo mó”. Ông bắt đầu tập trung vào việc những méo mó ấy giúp hình thành các sự kiện như thế nào.

    • t •

    Được trang bị bằng những khái niệm đại cương về cách thức mà thế giới hoạt động, đã đến lúc Soros nhìn về Wall Street.

    Vấn đề là nhiều người đã thử phân tích thị trường chứng khoán và đi đến kết luận là có lôgic trong việc xác định giá các cổ phiếu.

    Trong việc này bắt buộc phải có một lôgic nào đó, dù nó có thể có khiếm khuyết. Đối với ai đã từng giao dịch trên thị trường chứng khoán, một cách giải thích khấc về hành vi của nó thật không làm ai yên tâm chứ đừng nói là chứa nhiều rủi ro.

    Những người theo trường phái suy nghĩ hợp lý này biện luận rằng các nhà đầu tư biết rất rõ về một công ty nào đó, mỗi cổ phiếu đều được định giá chính xác. Vớỉ sự hiểu biết này, khi có một lựa chọn giữa nhiều cổ phiếu, các nhà đầu tư sẽ xử sự một cách hợp lý và lựa cổ phiếu tốt nhất. Và giá cổ phiếu sẽ có liên quan một cách hợp lý vớỉ những uớc lượng về lợi nhuận tương lai của công ty.

    Đấy là giả thiết về thị trường hiệu quả, một trong những lý thuyết được ưa chuộng nhất về hoạt động của thị trường. Nó giả sử là có một thế giới hoàn hảo, hợp lý. Nó cũng giả sử là tất cả các giá cổ phiếu đều phản ánh đúng những thông tin có được.

    Nhưng khi kinh tế học cổ điển dạy về khái niệm cân bằng và đưa ra giả thiết là có thể có được sự cạnh tranh hoàn hảo và tri thức hoàn hảo thì Soros cho rằng mình biết rõ hơn. Ông quan niệm là trong thế giới thật, tất cả các lý thuyết cho là có thể đạt đến trì thức hoàn hảo đều có sai lầm. Trong thế giới thật, những lệnh mua và bán đều không căn cứ trên các quan niệm của ngành kinh tế học cổ điển mà trên các kỳ vọng. Và trong thế giới thật, người ta chỉ có thể đạt đến một sự hiểu biết không hoàn hảo của bất kỳ thứ gì. Điều quan trọng mà tôi đưa đến để giúp nắm bắt sự việc nói chung là vai trò của những hiểu biết không hoàn hảo trong việc hình thành các sự kiện. Ngành kinh tế học truyền thống dựa trên các lý thuyết cân bằng, trong đó cung và cầu cân bằng với nhau. Nhưng nếu bạn hiểu được vai trò quan trọng của sự hiểu biết không hoàn hảo thì bạn sẽ thấy là bạn đang đứng trước sự mất cân bằng."

    Và như vậy, có lán ông nói thêm là ông bị quyến rủ bởi sự hỗn loạn. "Tôi thật sự đã kiếm tiền như vậy đó; hiểu ra quy trình có tính cách mạng trong các thị trường tài chính.”

    * * •

    Kể từ khi chơi trò Capital, một loại trò chơi giống như Monopoly, trên đảo Lupa vào những mùa hè ấy, George Soros đã bị rơi vào cái bẫy của đồng tiền. Dù cho một phần của mình vẫn ung dung tự tại trong thế giới của trí tuệ, nhưng phần thực tế của ông đã thúc ép ông phải đi học kinh tế ở trường Đại học Kinh tế London.

    Tuy nhiên, ông thất vọng thấy để tài còn nhiều thiếu sót. Các giáo sư cứ nhồi nhét vào đầu ông rằng kinh tế học là một ngành khoa học, hay ít ra cũng muốn trở thành một ngành khoa học. Người ta có thể tung ra các lý thuyết và phát triển các định luật chi phối thế giới kinh tế.

    Nhưng George Soros đã nhìn thấy bản chất của sự việc, ông lý luận rằng nếu kinh tế học là một ngành khoa học thì nó phải có tính khách quan. Như thế có nghĩa là người ta có thể quan sát các hoạt động kinh tế mà không gây ảnh hưởng trên các hoạt động ấy. Nhưng Soros kết luận là điều này không thể xảy ra được.

    Làm sao có thể nói kinh tế học là khách quan khi con người, dù sao cũng ở trung tâm điểm của kinh tế, lại thiếu tính khách quan.? Khi chính những con ngườỉ ấy, vì có tham gia vào các hoạt động kinh tế, không thể tránh khỏi việc có tác động lên đời sống kinh tế?

    • • *

    Những ai cho rằng đời sống kinh tế là hợp lý và lôgic cũng lý luận rằng các thị trường tài chính luôn luôn “đúng.” Đúng theo nghĩa là giá cả trên thị trường thường không tính đến - hay có để ý đến - những phát triển trong tương lai, dù cho các phát triển ấy vẫn còn mờ mịt.

    Soros nói: sai bét.

    Có lần ông giải thích là phần lớn các nhà đầu tư tin rằng mình có thể “trừ hao” cho những gì thị trường sẽ có trong tương lai, như thế có nghĩa là là họ có để ý đến những phát triển tương lai trước khi chúng xảy ra. Đối với Soros, đây là điều không thể có được. Theo ông, “bất kỳ suy nghĩ gì về tương lai thì theo định nghĩa đều là có thành kiến và không vô tư. Tôi không muốn nói là các sự việc và các tin tưởng tồn tại một cách độc lập với nhau. Trái lại, tôi đã trình bày trong thuyết phản hồi là các tin tưởng chỉ làm thay đổi các sự việc."



    Thật vậy, giá cả thị trường sẽ không đúng vì chúng luôn luôn không tính đến những ảnh hưởng có thể đến và sẽ đến từ các phát triển trong tương lai. Giá cả thị trường sẽ luôn luôn “sai” vì chúng không theo một cái nhìn hợp lý của tương lai mà chỉ có một cái nhìn chệch hướng.

    “Nhưng méo mó ấy tác động theo cả hai hướng,” Soros giải thích. “Không chỉ riêng người tham gia thị trường hoạt động có thành kiến mà thành kiến của họ có thể có ảnh hưởng đến quá trình diễn biến các sự kiện. Điều này cho ta có cảm giác là thị trường đoán trước được một cách chính xác những phát triển trong tương lai nhưng sự thật là những kỳ vọng của hiện tại ăn khớp với các sự kiện trong tương lai mà các sự kiện trong tương lai đã được hình thành bởi các kỳ vọng trong hiện tại. Các nhận thức của những người tham gia thị trường vốn đã sai lệch và có một mối quan hệ hai chiều giữa những nhận thức sai lệch và diễn biến thật sự của các sự kiện và kết quả là giữa hai bên thiếu đi sự tương đồng. Tôi gọi mối quan hệ hai chiều này là “ tính phản hồi."

    Sự hồi tiếp hai chiều giữa nhận thức và thực tại - mà Soros gọi là “tính phản hồi” là cốt lõi của lý thuyết mà ông đưa ra. Soros tin chắc rằng điều có thể giải thích được cách hoạt động của các thị trường tài chính không phải là giả thuyết thị trường hoàn hảo mà chính là mối tương quan đi lại giữa các thành kiến của nhà đầu tư và cái mà ông gọi là “diễn biến thật sự của các sự kiện", một cách diễn đạt khác của yếu tố cơ bản về kinh tế của các công ty thương mại.

    Theo Soros, “ thành kiến” của nhà đầu tư đối với một cổ phiếu, dù tốt hay xấu, làm cho giá cổ phiếu ấy lên hoặc xuống. Thành kiến ấy hoạt động như một "nhân tố tự củng cố” để rồi tương tác với các "khuynh hướng ngầm" và tác động đến các kỳ vọng của người đầu tư. Hướng di động sau đó về giá cả có thể làm cho ban lãnh đạo công ty mua tại cổ phần hay hợp nhất với một công ty khác, hay mua một công ty khác, hay thu mua toàn bộ các cổ phiếu, đó là những động thái có tác động đến các yếu tố cơ bản của chứng khoán.

    Giá cả một cổ phiếu lúc ấy sẽ không được quyết định bởi phản ứng sắc bén trước thông tin có được. Trái lại, nó chỉ là kết quả của những nhận thức vừa chịu tác động của những cảm tính tại vừa do các số liệu rõ rệt đưa lại. Soros viết trong Giả kim thuật Tài chính rằng: “Khi các sự kiện xảy ra với những người tham gia biết suy xét, vấn đề không còn bó gọn trong những sự việc mà gồm cả những nhận thức của người tham gia. Dây chuyền nhân quả không phải đi từ sự việc đến sự việc mà từ sự việc qua nhận thức rồi từ nhận thức đến sự việc."

    Thuyết của Soros gồm khái niệm về giá cổ phiếu mà các nhà đầu tư trả không chỉ đơn thuần phản ánh giá trị một cách thụ động; mà nó là một thành phần tích cực trong việc định giá cổ phiếu.

    Một bí quyết thứ hai trong thuyết của Soros là phải tìm ra vai trò của các quan niệm sai lầm trong việc hình thành các sự kiện. Quan niệm sai lầm, hay, như ông thường gọi là những “bất đồng" giữa cách suy nghĩ của người tham gia và hiện trạng thực của sự việc thì luôn luôn hiện diện.

    Đôi khi, những bất đồng ấy không lấy gì làm quan trọng và có thể tự điều chỉnh được, ông gọi đó là trạng thái "cận cân bằng. ”

    Đôi khi, những bất đồng trở nên quá lớn và không tự điểu chỉnh được. Trạng thái này ông gọi là "xa cân bằng. “

    Khi sự bất đồng trở nên quan trọng, nhận thức và thực tế sẽ rất xa cách nhau. Không có một kỹ xảo nào có thể đẩy chúng lại gần nhau. Sự thật là các lực tác động có khuynh hướng kéo chúng ra xa nhau.

    Những trạng thái xa cân bằng có thể dưới một trong hai hình thức. Ở một đầu, dù cho nhận thức và thực tế có xa cách nhau nhưng ta có trạng thái ổn định. Soros nhà đầu tư không hề quan tâm đến trạng thái ổn định. Ở đầu kia, ta có trạng thái không ổn định, và các sự kiện cứ ào ào tiến tới trước nhanh đến nỗi tầm nhìn của những người tham gia thị trường không đuổi theo kịp. Soros vô cùng thích thú với trạng thái này.

    Khoảng cách giữa nhận thức và thực tế là khá lớn vì các sự kiện xây ra không ai kiềm chế nổi, trên các thị trường tài chính đấy là những trạng thái đặc trưng cho các chuỗi boom/bust (hưng thịnh rồi suy sụp). Soros cho rằng các chuỗi ấy là những chuyện gàn dở.

    Đấy là “những quá trình lúc đầu thì tự củng cố nhưng không bền vững và cuối cùng lại phải đảo chiều." Nhưng luôn luôn vẫn có khả năng phát sinh ra các chuỗi ấy.

    Triết lý đầu tư của Soros cho rằng các chuỗi boom/bust dễ phát triển vì thị trường luôn luôn ở trạng thái dâng cao và bất định. Cách kiếm ra tiền là tìm cách lợi dụng sự bất ổn định này, tìm ra những phát triển bất ngờ.

    Lẽ tất nhiên, việc khó nhất là nhận dạng được một chuỗi boom/bust. Muốn vậy, nhà đầu tư phải hiểu được cách mà các nhà đầu tư khác nhận thức các yếu tố cơ bản của kinh tế. Xác định được thị trường, tức là tất cả các nhà đầu tư ấy gộp lại, nghĩ như thế nào ở một thời điểm nào đó là điều quan trọng và cũng là điều cốt lõi của kỹ thuật đầu tư của George Soros. Một khi một nhà đầu tư thấy được là thị trường đang nghĩ như thế nào, người ấy có thể nhảy sang lối khác, đánh cược vào chuyện bất ngờ xảy ra, đánh cược là một chu kỳ boom/bust sắp sửa đến hay là đã bắt đầu.

    Một chuỗi boom/bust xuất hiện như thế nào?

    Khi ra điều trần trước ủy ban về Ngân hàng, Tài chính và các vấn đề Đô thị của Hạ viện Mỹ ngày 13 tháng Tư năm 1994, Soros đưa ra một lờí giải thích, ông nói là ông không đồng ý với khái niệm “sự khôn ngoan đang phổ biến." Khi mọi người cho rằng các thị trường tài chính tiến dần đến trạng thái cân bằng và không tính đến tương lai thì Soros nói là “các thị trường tài chính không thể không tính đến tương lai một cách chính xác vì thị trường không thể chỉ bỏ qua tương lai mà giúp hình thành ra nó.”

    Đôi khi, ông nói rằng các thị trường tài chính có thể có ảnh hưởng đến các yếu tố cơ bản ngay khi chúng không phản ánh các yếu tố ấy. “ Khi việc này xảy ra, thị trường bước vào một trạng thái mất cân bằng động và hoạt động khác hẳn với những gì mà thuyết thị trường hoàn hảo cho là bình thường.”

    Những chuỗi boom/bust ấy không xuất hiện thường xuyên. Khi xuất hiện, vì có ảnh hưởng đến các yếu tố cơ bản của tài chính, chúng gây ra nhiều tàn phá. Một chuổi boom/bust chỉ xuất hiện khi một thị trường có tính chạy theo khuynh hướng là chính.

    “Tôi định nghĩa tính chạy theo khuynh hướng là người ta mua khi giá cổ phiếu tăng và bán khi giá cổ phiếu hạ, một cách tự củng cố.

    Tính chạy theo khuynh hướng một cách lệch lạc là điều kiện cần thiết để tạo ra một sự sụp đổ của thị trường nhưng không phải là điều kiện đủ. Yậy câu hỏi chính được đặt ra là cái gì tạo ra tính chạy theo khuynh hướng?"

    Đây là câu trả lời cũa George Soros:

    Những nhận thức sai lệch làm cho thị trường thành “tự nuôi dưỡng chính mình." “Tự nuôi dưỡng chính mình “ là một cách nói để diễn tả việc các nhà đầu tư rơi vào một cơn điên loạn mù quáng và có trạng thái tâm lý của một bầy động vật.

    Và những thị trường tự nuôi dưỡng bằng những cơn điên loạn của chính mình thì thường làm quá mức, luôn luôn đi đến những thái cực. Chính sự quá khích, đi đến những thái cực đã làm nảy sinh các chuỗi boom/bust.

    Do đó, chìa khóa đi đến thành công trong đầu tư là nhận ra điểm khởi đầu của việc thị trường tự nuôi dưỡng bằng chính động lực của mình vì khi xác định được điểm ấy, nhà đầu tư sẽ biết là một chuỗi boom/bust sắp xảy ra hoặc đã xảy ra rồi.

    Và Soros giải thích: “Lý do vì sao quy trình phản hồi đi theo một mô hình biện chứng có thể giải thích đại để như sau: nếu càng nhiều bấp bênh thì càng có nhiều người bị các khuynh hướng của thị trường lôi cuốn, và sự đầu cơ theo hình thức chạy theo khuynh hướng càng mạnh, tinh trạng thị trường lại càng bấp bênh hơn."

    Những giai đoạn chính của một chuỗi boom/bust điển hình là:

    • có một khuynh hướng chưa được thừa nhận

    • có những bước đầu của một quá trinh tự củng cố

    • thử nghiệm thành công của hướng đi của thị trường

    • một sự tin tưởng ngày càng lớn

    • một sự xa cách giữa thực tế và nhận thức

    • đỉnh cao

    • cuối cùng là sự khởi đầu của một chuỗi tự củng cố như phản chiếu ngược qua gương và đi theo hướng ngược lại.



    Soros cũng chỉ ra rằng khi khuynh hướng cứ tiếp tục, tầm quan trọng của các giao dịch có tính đầu cơ sẽ tăng lên. Hơn nữa, vì thành kiến đi theo khuynh hướng nên khi khuynh hướng càng tiếp tục thì thành kiến càng mạnh lên. Cuối cùng, một khi khuynh hướng đã vững vàng thì rốt cuộc nó sẽ đi theo con đường của nó.

    Byron Wien, chiến lược gia về đầu tư cổ phần thuộc hãng Morgan Stanley ở New York và là bạn thân của Soros đã giải thích lý thuyết của Soros một cách ngắn gọn như sau: “Ý của ông ấy là mọi việc đều tốt lành cả rồi xấu đi. Anh phải biết rằng khi mọi việc đang chạy tốt thì nó sắp trở thành xấu, và, để đơn giản hóa hết mức lý thuyết của Soros, điều quan trọng là phải công nhận việc khuynh hướng đổi chiều là không tránh khỏi. Bí quyết là xác định được điểm uốn này."

    Thí dụ về hiện tượng phản hồi thì có rất nhiều. Trong một bài báo của tạp chí Wall Street Journal năm 1988, Soros viết: “Khi người ta mất lòng tin về một đồng tiền nào đó, sự mất giá của nó sẽ làm tăng lạm phát trong nước, do đó càng làm đồng tiền mất giá. Khi các nhà đầu tư tin vào ban lãnh đạo của một công ty thì việc giá cổ phiếu tăng sẽ cho phép ban lãnh đạo dễ dàng đáp ứng các kỳ vọng của nhà đầu tư. Tôi gọi đó những mối quan hệ mà ban đầu tự củng cố và cuối cùng tự thất bại ấy là “phản hồi.”

    Những khoản tiền lời lớn nhất mà Soros thu được là khi ông phát hiện ra các biến động có tính “tự củng cố” của các cổ phiếu hay các nhóm cổ phiếu. Các nhà đầu tư bất thình lình thay đổi thái độ đối với một ngành công nghiệp và mua rất nhiều. Một hiện tượng tự củng cố sẽ xuất hiện vì khi cổ phiếu được mua nhiều thì sự thịnh vuợng của ngành công nghiệp ấy được củng cố vì các công ty trong ngành ấy sẽ tăng doanh thu qua việc vay thêm vốn, bán cổ phiếu, mua thêm các hãng khác dựa trên cổ phiếu..

    Đấy là phần boom (phần hưng thịnh) của chuỗi boom/bust.

    Canh bạc sẽ tàn khi thị trường đã bào hòa và ngày càng có nhiều cạnh tranh làm cho triển vọng của nhóm công nghiệp bị giảm đi, giá cổ phiếu trở nên quá cao. Khi quá trình này được làm sáng tỏ những người bán nhanh đã có một ngày thành công lớn.

    Một thí dụ xảy ra năm 1960 có liên quan đến các tập đoàn. Giá cổ phiếu cao của các tập đoàn thúc đẩy họ mua thêm càng nhiều công ty càng tốt. Chính bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào này đẩy giá lên cao hơn cho đến khi giá cổ phiếu tụt xuống.

    Theo Soros, mối tương quan phản hồi lại càng rõ trong trường hợp các tín dụng:

    “Các khoản tiền cho vay được căn cứ trên sự ước lượng của người cho vay về khả năng trả nợ của người vay. Việc định giá các thế chấp đáng lẽ là độc lập đối với việc cho vay nhưng sự thật là việc cho vay có ảnh hưởng đến giá trị của thế chấp. Điều này đúng cho mỗi trường hợp cá biệt và cũng đúng cho toàn bộ nền kinh tế."

    Trong một thí dụ khác về hiện tượng phản hồi xảy ra từ khoảng giữa đến cuối thập kỷ 1980, giá đưa ra trong một cuộc đấu thầu để mua lại công ty dẫn đến việc xác định lại tài sản của công ty ấy. Điều này làm cho các ngân hàng sẵn sàng cho người đấu thầu vay thêm tiền. Cuối cùng là giá lên rất cao; thị trường vì bất ổn và được đánh giá quá cao nên cứ tăng lên mãi. Theo thuyết phản hồi của Soros, việc thị trường sụp đổ là điều không thể tránh khỏi.

    Đấy là George Soros, nhà đầu tư không chính thống vào thời ấy.

    Ông không hoạt động trong các thị trường tài chính theo các quy luật truyền thống. Để cách ấy cho những người khác. Những người cứ tin rằng thế giới, và tất cả những gì thế giới chứa chấp, kể cả các thị trường tài chính, là hợp lý.

    Soros quan tâm đến những quy luật của trò chơi nhưng chỉ muốn biết khi nào các quy luật ấy sắp bị thay đổi. Bởi vì khi chúng sắp thay đổi, chúng sẽ bắt đầu bằng việc tạo ra một mối quan hệ phản hồi, vằ tính phản hồi ấy có thể gây ra một chuỗi boom/bust.

    Soros luôn luôn theo dõi các thị trường tài chính, kiểm tra chúng tỉ mỉ để phát hiện một chuỗi boom/bust. Biết rằng các thị trường tài chính đôi khi được đặc trưng bởi mối quan hệ phản hồi, Soros cảm thấy mình có lợi thế hơn phần còn lại của cộng đồng các nhà đầu tư.

    Có được bí quyết đầu tư này, Soros không phải luôn luôn được đảm bảo là có thể kiếm lời. Đôi khi, có những vấn đề không dính dáng gì đến tài đầu tư của ông. Đôi khi, chúng lại hoàn toàn do tài ấy mà ra.

    Thí dụ như có lúc không hề có quá trình phản hồi. Hoặc là quá trình ấy đã có mà Soros không thể phát hiện kịp thời. Tồi tệ nhất là khi Soros đì tìm một quá trình phản hồi, tưởng là mình tìm ra nhưng sau đấy phát hiện là mình đã nhầm.

    Trong một số trường hợp, Soros lấy cả một vị thế đầu tư mà không “suy nghĩ về cách hoạt động của một thị trường nào đó nghĩa là có hay không có một quá trình phản hồi. Nhưng ông luôn luôn tìm kiếm các quá trình phản hồi. Khi tìm ra và thấy có khả năng khai thác, ông không ngại bỏ ra vô số tiền, viết thêm bao nhiêu là số không trên hàng đơn vị.

    Tuy chấp nhận rằng đó thật sự không phải là một lý thuyết đang phát triển nhanh, Soros vẫn ngụ ý rằng thuyết phản hồi của ông có hy vọng giải thích được nhiều thứ hơn là cách kiếm tiền trên các thị trường tài chính. Với giọng phô trương, ông còn nói là thuyết phản hồi của mình còn có thể giải thích các hoạt động của thế giới.

    Đó là nhà triết học George Soros nói ra chứ không phải là nhà đầu tư George Soros.

    “Tôi tin rằng việc các người tham gia vào thị trường tài chính có thành kiến là chia khóa để giải thích tất cả các quá trình lịch sử có sự tham gia của những con người biết suy nghĩ, chẳng khác gì sự đột biến gien là chia khóa của mọi tiến hóa của sinh vật.”

    Soros cũng biết là gắn những kỳ vọng cao như thế vào lý thuyết của ông chỉ là một điều không tưởng, Dù muốn sự việc đi trái lại, nhưng ông vẫn phải nhận ra với một nỗi thất vọng ngày càng cao là ông đã chẳng hiến dâng được cho thế giới một phát minh vĩ đại.

    Lý thuyết của ông vẫn có nhiều khiếm khuyết. Ông không định nghĩa được là ông muốn nói gì khi nói là các người tham gia có một hiểu biết không hoàn hảo. Hơn nữa, lý thuyết ấy chẳng giúp dược ai để có những dự báo đúng.

    Sau cùng, Soros cũng phải vỡ mộng thú nhận rằng, mặc dù “có giá trị và khá hay" nhưng quan niệm của ông về mối quan hệ nhân quả của thành kiến của người tham gia thị trường chưa hẳn đã là một lý thuyết thật sự. Nó ôm đồm quá. Muốn có ích, “lý thuyết” phải chỉ rõ được khi nào một chuỗi boom/bust sắp xảy ra. Lý thuyết của ông không làm được điều này.

    Soros chỉ là trung thực khi nói về những hạn chế của lý thuyết của mình, ông đặt nhiều hy vọng vào lý thuyết ấy, và khi những hy vọng này không trở thành hiện thực thì ông có thể im hơi lặng tiếng. Nhưng ông đã không làm như vậy. Dù không đưa ra một lý thuyết tổng quát nhưng ông tin rằng những gì ông đã làm cũng có ích phần nào. “Tôi đã đưa ra một cách tiếp cận để giúp ngườỉ ta thấy rõ tình trạng bấp bênh của hệ thống tài chính của chúng ta."

    • • *

    Vào tháng Năm năm 1994, bảy năm sau khi cuốn Giả kim thuật Tài chính được xuất bản, hơn bao giờ hết, Soros bây giờ đã là một nhân vật khá nổi tiếng trong giới tài chính. Kết quả là ông cho tái bản tác phẩm của mình dưới dạng bìa mềm với một lời giới thiệu. Trong lời giới thiệu ấy, Soros viết rằng ông muốn điểm lại thuyết phản hồi của ông một lần nữa để làm sáng tỏ điều mà ông muốn nói lúc đầu:

    Ông viết: “Trong Giả kim thuật Tài chinh, tôi đưa ra thuyết phản hồi như thể là nó lúc nào cũng đúng. Nó đúng theo nghĩa là cơ cấu hồi tiếp hai chiều, dấu xác nhận của hiện tượng phản hồi, có thể xảy ra bất kỳ lúc nào, nhưng nó không đúng ở chỗ là nó luôn luôn có mặt. Thật ra, trong nhiều trường hợp, nó yếu đến nỗi người ta có thể bỏ qua, không kể đến.”

    Soros cũng làm sáng tỏ một điểm thứ hai:

    “Người ta thường tóm tắt những điều tôi muốn nói đến trong cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào là sự định giá của những người tham gia vào thị trường luôn luôn có thành kiến và những thành kiến đang thịnh hành có ảnh hưởng đến giá cả thị trường”. Ông nói thêm rằng nếu ông chỉ muốn nói chừng ấy chuyện thì không cần phải viết cả quyển bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào dài. “Điều tôi muốn nói là có những trường hợp thành kiến không chỉ có ảnh hưởng đến giá cả thị trường mà còn tác động lên cái mà người ta gọi là yếu tố cơ bản của thị trường. Đấy là trong trường hợp hiện tượng phản hồi trở nên quan trọng. Nó không xảy ra thường xuyên, nhưng một khi xảy ra thì giá cả thị trường đi theo một kiểu khác. Giá cả thị trường cũng có một vai trò khác; chúng không chỉ đơn thuần phản ánh các yếu tố cơ bản mà chúng trở thành một trong những yếu tố cơ bản ấy để dìu dắt sự biến chuyển của giá cả.”

    Soros chê trách những ai đọc. Một phần hay đọc cả cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào mà chỉ nhận ra điểm thứ nhất - rằng các thành kiến có ảnh hưởng lên giá cả thị trường - mà không nhận ra điểm thứ hai - rằng trong một vài trường hợp, các thành kiến đang thinh hành có thể ảnh hưởng đến các yếu tố cơ bản và những thay đổi trong giá cả thị trường sẽ dẫn đến những thay đổi trong giá cả thị trường.

    Ông tự trách mình.

    Ông thừa nhận là đáng lẽ ra ông không nên đưa ra một lý thuyết tổng quát trong ấy việc không có hiện tượng phản hồi là một trường hợp đặc biệt mà phải nói hiện tượng phản hồi là một trường hợp đặc biệt vì đặc tính cơ bản của hiện tượng phản hồi là nó ít khi xảy ra.

    Lời bào chữa chính của ông là ông đã quan sát hiện tượng phản hồi trước hết như không phải là lời giải thích cho cách xử sự của các thị trường tài chính mà trước đấy ông đã xem nó là một quan niệm triết học. Khi cho rầng mình đã đưa ra một lý thuyết chung về phản hồi, ông phải công nhận là ông đã đi quá đà. Từ đó suy ra, theo ông viết, là ông phạm sai lầm khi nói rằng lý thuyết kinh tế là không đúng. Nếu các điều kiện để hiện tượng phản hồi xảy ra không có liên tục thì phải công nhận là lý thuyết kinh tế cũng không phải luôn luôn sai.

    » » t

    Thuyết phản hồi cửa George Soros có giá trị gì không? Điều này có thể dễ trả lời nếu Soros đã không làm cho vấn đề thêm mù mịt khi ông công nhận là đôi khi ông cũng không tin vào lý thuyết của mình nữa, đôi khi ông phản ứng lại với các sự kiện trên thị trường tài chính giống như một con thú trên rừng phản ứng với môi trường xung quanh. Ông không nói rõ là khi phát biểu như thế, ông muốn nói điều gì. Đôi khi ông ông viện cớ là trên thị trường tài chính sắp có những chuyện tồi tệ xảy ra chỉ vì ông bắt đầu thấy đau lưng. Tuy nhiên, chứng đau lưng của ông cũng chỉ được sử đụng như một hệ thống báo động sớm. Nó không giúp cho ông xác định được cái gì sắp xảy ra với thị trường. Khi Soros đã xác định được là có chuyện sắp xảy ra thì cứ như là ông đã uống một viên aspirin làm giảm đau.

    Tức khắc, bệnh đau lưng của ông biến mất.

    Tôi nói chuyện với Soros vào tháng Năm năm 2008 và đề nghị ông dung hòa giữa lý thuyết phản hồi của ông và việc ông bị đau lưng như một điểm báo là danh mục đầu tư của mình đang có vấn đề.

    Ông nói chẳng cần phải dung hòa gì cả, “hai việc này có quan hệ mật thiết với nhau - bởi vì triết lý của tôi dựa trên tính quan trọng của hiện tượng bấp bênh. Tôi cho rằng, trong các thị trường tài chính còn có nhiều bấp bênh hơn là hệ thuyết hiện hành muốn công nhận. Đó là điều chính mà tôi muốn nói. Và sự bấp bênh tạo ra trạng thái căng thẳng. Anh phải có một quyết định. Tôi có khỏe hơn con hổ đúng trước mặt tôi không hay là tôi phải bỏ chạy? Chính điều này tạo ra căng thẳng. Đó là cái căng thẳng tôi cảm thấy trên lưng tôi. Tình thế của tôi hiện giờ có điều gì không ổn và tôi phải làm một việc nào đó để cải thiện. Tôi đã làm việc ấy và hết đau lưng. Mối quan hệ là như thế.

    Cách trả lời trước tình trạng bấp bênh là phải giảm rủi ro. Mà không nhất thiết là giảm rủi ro bằng biện pháp đúng đắn. Anh có thể làm sai. Và tôi thường làm sai khi phải giảm rủi ro trong các điều kiện bấp bênh.”

    Chứng đau lưng không cho ông biết cách làm việc ấy: “Tôi phải dùng bộ óc của tôi để tìm ra.”

    Tôi mới hỏi Soros là ông có cảm thấy thuyết phản hồi giúp cho ông điều gì trong đầu tư không?

    Ông trả lời: Có chứ.

    Nhưng làm sao ông có thể chứng minh được là lý thuyết ấy áp dụng được. Tôi gợi ý cho ông, có lẽ chỉ là trực giác.

    Soros nói: “Anh cần trực giác. Thuyết phản hồi không giúp cho anh dự báo tương lai. Nó chỉ là một khung cảnh trong đó anh có thể đoán trước” được các sự kiện xảy ra trong tương lai. Anh có một dãy sự kiện nào đó. Vì vậy anh vẫn cần có trực giác. Anh phải phối hợp nó (thuyết của Soros) với trực giác thì mới kiếm ra tiền.:rose: