09 chương 8 -hangoc (done)

15/8/15
09 chương 8 -hangoc (done)
  • CHƯƠNG 8

    LỜI NÓI ĐI ĐÔI VỚI VIỆC LÀM

    (ĐẶT TIỀN VÀO MIỆNG MÌNH)


    Vào cuối thập niên 1960, Soros bước chân vào giới tài chính cao cấp.

    Muốn đóng một vai trò lãnh đạo trong công ty minh làm việc, Soros đã khuyên chủ mình hãng Amhold & s. Bleichroeder tập ra hai quỹ đầu tư đóng ở ngoại quốc và giao cho ông quản lý cả hai. Quỹ thứ nhất có tên là Quỹ First Eagle bắt đầu hoạt động năm 1967. Trong tiếng lóng của Wall Street, nó được gọi là một quỹ dài (đầu cơ lên giá): Khách hàng bỏ vốn đầu tư nhắm vào những thị trường lên giá. Quỹ thứ hai là một quỹ đầu tư mạo hiểm gọi là Quỹ Double Eagle bắt đầu năm 1969. Quỹ này được cấu trúc một cách thế nào để cho phép Soros dùng các cổ phiếu và trái phiếu làm thế chấp để mua bất kỳ số lượng nào của các công cụ tài chính, kể cả các cổ phiếu, trái phiếu hay ngoại hối. ông tự bỏ tiền túi ra để khởi động quỹ này với 250.000 đôla; nhanh chóng những nhà đầu tư châu Âu giàu có mà Soros quen biết đổ thêm vào 6 triệu đôla, 250.0 đôla,

    Đó là vốn khởi nghiệp của tài sản của Soros.

    Byron Wien gặp Soros lần đầu tiên năm 1968, lúc ấy Wien là người quản lý danh mục của một hãng đầu tư ở Wall Street và là khách hàng của Amhold & S. Bleichroeder, Hãng của Wien băn khoăn về tình hình Nhật Bản; thị trường chứng khoán ở đây có vẻ đang thấp giá thế mà không ai nắm được kinh tế Nhật Bản. Rồi Wien nghe tên một anh chàng George Soros, được xem là có hiểu biết về Nhật Bản. Wien mời Soros đến nói chuyện với mình và lắng nghe Soros nói với đầy vẻ kính phục.

    Đấy là danh thiếp lớn nhất để giới thiệu Soros vào lúc ấy. Ông có vẻ biết rất nhiều về các nền kinh tế xa lạ hơn những người khác trong các hãng lớn ở Mỹ.

    Điều làm cho Wien có ấn tượng đặc biệt là động tác tiên phong của Soros trong việc mở ra một quỹ đầu tư mạo hiểm đặt ở nước ngoài không cho khách hàng Mỹ tham gia, trừ Soros, lẽ tất nhiên vì quy định của quỹ cho phép Soros là thành viên, mặc dù ông là công dân Mỹ. Như thường lệ, Soros là người tiến xa nhất trong nghề này vì vào khoảng cuối thập niên 1960, các quỹ đầu tư mạo hiểm Mỹ đặt nước ngoài tham gia vào các danh mục đầu tư còn là một điều mới lạ. Soros không bao giờ sợ nhảy vào những nơi mà người khác còn chần chừ.

    Trong khi nhiều người Mỹ giàu có rất muốn tham gia vào quỹ Double Eagle, thì Soros lại không cần đến họ. Ông biết là ông có thể thu hút những khách hàng châu Âu tự phụ mặc dù họ nổi tiếng là thất thường, bởi vì những thuận lợi về thuế má sẽ làm cho họ trung thành hơn với quỹ, Ông ta đã đoán đúng; ông đã lôi kéo được một tập thể khách hàng quốc tế gồm những người châu Âu, A-rập, Nam Mỹ giàu có. Ông điều hành quỹ đầu tư từ trụ sở ở New York. Nhưng cũng như nhiều quỹ ở nước ngoài khác, Double Eagle đặt Curacao trong vùng Antilles Hà Lan, ỡ đấy quỹ không bị ủy ban Giao dịch chứng khoán Mỹ (SEC) kiểm soắt và cũng không phải trả thuế lợi tức.

    Soros là một trong những người đi tiên phong trong lĩnh vực quỹ đầu tư mạo hiểm, đây lợi nhuận có khả năng lên rất cao. Ông cũng là người đầu tiên sủ dụng một loại công cụ tài chính gây

    nhiều tranh cãi gọi là hợp đồng phái sinh (derivatives) gắn liền với những người tham gia quỹ đầu tư mạo hiểm.

    Vào giữa thập niên 1960, báo chí quan tâm đến một số quỹ đầu tư mạo hiểm nhưng sau năm 1970 thì ít người chú ý đến. Đến năm 1971 các quỹ này lại nổi tiếng khi có quyết định thả nổi các tỷ suất hối đoái, nhưng nhiều quỹ đầu tư mạo hiểm phải đóng cửa khi thị trường bị sụt giảm trong những năm 1973, 1974. Trong thập niên tiếp theo, các quỹ đầu tư mạo hiểm trải qua một thời gian tạm láng.

    Điều làm cho các quỹ đầu tư mạo hiểm phát ưiển trở lại vào cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990 - và cũng làm cho George Soros nổi lẻn như một nhà đầu tư tầm cỡ quốc tế - là quyết định nãm 1985 của các ngân hàng châu Âu giảm tỷ suất hốỉ đoái của đồng đôla để đẩy mạnh xuất khẩu của Mỹ. (Giá đôla hạ thì hàng xuất khẩu Mỹ rẻ hơn.) Đồng đôla mất giá tạo ra nhiều khích lệ mới để buôn ngoại tệ. Soros và những nhà quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm nhanh chóng nhảy vào kiếm lợi.

    Nếu Soros còn ở lại châu Âu thì có lẽ ông cũng chỉ là một nhà tài chính tinh mắt, sắc sảo - chứ không phải là một người nổi tiếng, một chuyên gia đặc biệt, ông cũng chỉ là một trong số đông người tìm cách kiếm ít đồng trên thị trường tài chính. Nhưng ở Mỹ, Soros lại là một loại người hiếm có tận dụng được những hiểu biết của mình về thị trường tài chính Âu châu. Lợi thế lớn nhất của ông là ông có vô số nguồn ở châu Âu và nhiều nơi khác, những nguồn mà Ông sử dụng để đánh giá toàn cảnh, hiểu được cách thức mà các sự kiện chính trị và kinh tế tác động lên các thị trường tài chính khác nhau trên thế giới.

    Arthur Lerner, người đã cộng tác với Soros vào cuối thập niên 1960 giải thích: ‘‘George là một trong những người sớm thấy được là anh phải suy nghĩ trên phạm vi toàn cầu chứ không chỉ ru rú ở một xó. Anh phải biết một sự kiện nơi này tác động lên một sự kiện ở nơi kia như thế nào. Lúc ấy chưa ai quan tâm đến tiền tệ. Ông thu thập được những thông tin cơ bản từ nhiều nguồn khác nhau để đưa vào đầu mình. Sau đó, ông cho ra một luận thuyết mà phần lớn thời gian là đúng đắn."



    Lemer, một nhà phân tích của Ngân hàng New York đã được Arnhold & S. Bleichroeder mời về làm việc trong những năm 1967 và 1968, nhưng lần đầu tiên ông từ chối. Tuy nhiên đến đầu năm 1969 thì ông đồng ý. Việc đầu tiên của ông ở Amhold là làm trợ lý cho Soros, giúp ông ta quản lý hai quỹ đầu tư. Trong hai năm tiếp theo họ làm việc sát cạnh nhau.

    Làm việc với Soros thật là căng thẳng nhưng hấp dẫn. Trong hai năm ấy, thị trường lên xuống thất thường càng làm cho công việc thêm nhiều áp lực và kịch tính. Lemer nhớ lại “George là người phân công công tác. Ông làm cho anh phải tập trung vào công việc, ông có một hiểu biết rộng lớn về thế giới làm cho tôi kinh ngạc, ông có thể gần như bắt đầu một sự kiện ở điểm A rồi ngay tớc khắc dẫn anh đến các hậu quả ở điểm B. Tôi không hiểu được cái lôgic của sự việc vì tôi không ngang trình độ với ông. Có lẽ ông là nhà đầu tư vĩ mô lớn nhất mà tôi được biết. Khi xuống đến vi mô, những điểm nhỏ nhặt, thì ông không tập trung được và không tốt như trước”.

    Ông suy nghĩ liên tục, có những ý tưởng lớn lao, dùng những từ khó đọc mà những người khác trong văn phòng chỉ hiểu được nếu chạy đi tra từ điển. Ngay cả Lemer cũng phải điều chỉnh một số thứ. Trong số đó có văn phong của ông. “Tôi không ngờ được là Soros lại chặt chẽ như thế về cách hành văn. Ông có một văn phong không giống của tôi. Tôi quen viết báo cáo để mọi người đọc. Cách hành văn của George lại rất văn hoa.”

    Vậy George Soros là một người nổi tiếng. Ông là nhà thông thái trong văn phong. Có ông ở đây thật là đáng ấn tượng, nhưng có ai hiểu ông nói gì không?

    Cũng vào khoảng thời gian ấy là Soros viết quyển Giả kim thuật Tài chính. Năm 1969, ông nhờ Lemer đọc lại năm chương của cuốn bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào, "Tôi chẳng hiểu một chữ nào cả” Lemer giải thích, cho rằng vấn đề không phải ở chỗ chỉ số IQ của mình mà là khả năng của Soros để giải thích những gì ông muốn nói. Hy vọng tìm ra được một tóm tắt của lý thuyết phản hồi, nhưng khi không tìm ra, Lemer phải rút lui.

    Chính cái từ phản hồi làm ông bối rối. Ông chạy đi tra trong từ điển. Hai mươi lăm năm sau - vào mùa xuân 1994 - Lemer phải thú nhận: “Đến ngày hôm nay, tôi vẫn còn có vấn đề với từ này. Tôi chẳng hiểu là ông ta muốn nói gì."

    Cảm thấy mình gần gũi với Soros, Lemer đưa ra vài lời khuyên thân thiện: “George, đừng bao giờ xem mình là nhà giáo vì anh muốn dạy một người nào đó kém hơn anh - phần lớn những người làm với anh đều kém hơn anh...” ông không nói hết được ý tưởng của mình. Thay vào đấy, ông phát biểu một cách bộc trực: “Anh khó mà truyền đạt cho người ta biết anh muốn nói gì.”

    Đáng lẽ ra Soros phải nghe những người như Arthur Lemer nói với ông trong đời. Họ không thông minh được bằng ông, nhưng họ là những người mà không sớm thì muộn Soros muốn gây ấn tượng. Và muốn gây ấn tượng trên họ, ông phải viết ra những ý tưởng của mình cho rõ ràng hơn. Đó là điều mà Arthur Lemer muốn nói với ông. Thật là bộc trực nhưng đó là một thông điệp đầy thiện ý. Đi kiếm một người xuất bản bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào cho cậu đi. Đi kiếm ngườỉinào có thể giúp cậu diễn tả những ý tưởng ấy bằng một thứ tiếng Anh dễ đọc đi.

    Đó không phải là điều mà George Soros muốn nghe. Và vì thế cho nên phần lớn những người được đề nghị cho ý kiến về những tác phẩm của Soros đều không muốn nói những điều ấy. Họ biết rõ hơn thế. Ông ấy có chịu nghe họ đâu. Vậy tội gì? Tội gì làm cho ông ta giận?

    Dù một người như Arthur Lemer có muốn tỉm hiểu xem thuyết phản hồi là gì hay không thì George Soros cũng thấy là đã đến lúc đưa các lý thuyết của mình ra thử nghiệm trên thị trường, ông tin rằng chúng có thể tạo cho ông lợi thế cạnh tranh.

    “Tôi đang đặt tiền nơi miệng tôi (làm những gì tôi nói N.D.) và tôi không thể tách mình ra khỏi các quyết định đầu tư của mình. Tôi phải sử dụng tất cả các khả năng trí tuệ của mình và tôi nhận thấy, với sự ngạc nhiên và hài lòng, rằng các ý tưởng trừu tượng của mình đến thật đúng lúc. Nếu nói rằng chúng là nguyên nhân của các thành công của tôi thì hơi quá nhưng chắc chắn là chúng cho tôi một lợi thế.”

    Ngành công nghiệp đầu tiên mà Soros theo dõi chặt chẽ cho Quỹ Double Eagle là các Công ty liên hợp đầu tư bất động sản (REIT).

    Năm 1969, Soros nổi tiếng vì trong một bản ghi nhớ được công bố rộng rãi, ông chỉ rõ những lợi ích của việc đầu tư vào một phương tiện mới gọi là công ty liên hợp đầu tư bất động sản (REIT). Cảm thấy sắp có một chuỗi boom/bust, ông gắn liền chu kỳ của REIT với một kịch bản ba hồi, dự đoán chính xác là các RE IT sẽ đi qua một giai đoạn hưng thịnh (boom) rồi vì đi quá trớn, cuối cùng sẽ sụp đổ.

    Tỏ ra là một nhà bói toán giỏi, ông kết luận rằng “vì Hồi III ba năm nữa mới đến nên tôi có thể yên tâm mua các cổ phiếu." ông đã đoán đúng và kiếm được một khoản lời khá lớn. Đến lúc như ông đã tiên đoán, vào năm 1974, các REIT nở to ra, Soros bán khống và kiếm thêm được 1 triệu đôla. Việc thử nghiệm đầu tiên các lý thuyết thị trường của mình đem lại cho Soros một niểm cổ vũ lớn lao.

    Ông cũng sử dụng lý thuyết của mình trong giai đoạn hưng thịnh của các tập đoàn vào cuối thập niên 1960 và cũng thu được nhiều tiền “cả khi giá lên và khi giấ xuống" ông công nhận như vậy. Ban đầu, ông thấy các công ty công nghệ cao mua rất nhiều, lợi nhuận lên cao, và gây ấn tượng trên các nhà đầu tư thuộc tổ chức. Soros tin rằng “thành kiến" của các “nhà quản lý quỹ năng động” sẽ nuôi dưỡng giá cổ phiếu của các tập đoàn. Ông bỏ tiền ra mua rất nhiều, về sau ông bán khống và khi giá xuống, kiếm lãi rất nhiều.

    Năm 1970, Soros hợp tác với Jimmy Rogers, cựu sinh viên Yale khóa 1964, quê ở Dennapolia, Alabama.

    George Soros và Jimmy Rogers trở thành cặp nhà đầu tư giỏi nhất Wall Street từ trước đến nay. Rogers đã học lớp PPE - chính trị, triết học và kinh tế - trường Đại học Oxford bên Anh do đó gây ấn tượng mạnh trên Soros, con người thân Anh và muốn trở thành nhà triết học. Trong hai năm trong quân ngũ, Rogers nổi tiếng là chuyên gia phát hiện các cổ phần có lãi. Chính ông đã quản lý danh mục cổ phiếu của sĩ quan thủ trưởng mình.

    Công việc đầu tiên của Rogers ở Wall Street là tại công ty Bache & Co. Năm 1968, chỉ với 600 đôla, Rogers bắt đầu buôn chứng khoán. Hai năm sau, ông bắt đầu làm việc dưới quyền Soros ở Amhold & S. Bleichroeder. Tuy nhiên sau đấy, có luật mới về các công ty môi giớỉ không cho phép Soros hay Rogers hưởng số phần trăm trên lợi nhuận trong việc buôn bán cổ phiếu của công ty nơi họ làm việc. Nhưng Soros và Rogers thấy ngứa ngáy muốn thành nhà quản lỷ tiền tệ độc lập. Họ rời công ty và lập hãng riêng của mình.

    Nãm 1973, họ lập Công ty quản lý quỹ Soros (SFM) đặt trong một văn phòng khắc khổ gồm ba buồng nhìn xuống công viên Central ở New York.

    Quỹ mới thành lập này nằm xa Wall Street.

    Lúc ấy thật là một ý nghi3 kỳ lạ. Tại sao một người quan tâm đến đầu tư lại ở một nơi xa trung tâm quyền lực như vậy?

    Jimmy Rogers thích giải thích rằng vì ông và George Soros không có những suy nghĩ giống như cách nhìn tiêu biểu của Wall Street thì không có lý do nào lại đặt văn phòng trong khu Wall Street. Điểm quan trọng đối với Soros là văn phòng này chỉ nằm cách căn hộ chung cư sang trọng của ông trên đường Central Park West một khối phố mà thôi.

    Cách làm việc ở SFM thì thỏai mái hơn nhiều so với nhịp độ dồn dập thường thấy trong các công ty ở Wall Street. Vào mùa hè, nhân viên đi giày tennis đến sở, và nhiều người, kể cả Rogers, đạp xe đạp đi làm. Soros và Rogers đều thích không khí không gò bó ở văn phòng. Họ mong là có thể duy trì được như thế dù có kiếm được bao nhiêu tiền cũng vậy. Nhưng, ai ai cũng làm việc đến 80 tiếng đồng hồ mỗi tuần.

    Lúc đầu cả hãng chỉ có hai người, Soros nhà kinh doanh và Rogers, nhà nghiên cứu. Thật ra thì có đến ba - thêm một cô thư ký.

    Văn phòng có vẻ bé nhỏ. Nhưng đó là nhờ hai người đã cố gắng hết sức. Cuối cùng kích thước khiêm tốn lại có cái hay. Họ có thể tập trung vào công việc, không phải va chạm với ai khi đi ra đi vào, không phải bận rộn về hàng đống giấy tờ, không phải xử lý hàng vạn việc lặt vặt khi văn phòng quá lớn.



    Tuy nhiên, họ nắm vững công việc kinh doanh. Họ giữ vốn của quỹ dưới hình thức cổ phiếu. Để đánh cược về các mặt hàng và tiền tệ, họ dùng các hợp đồng giao sau hay tiền vay mượn. Từ trước chưa có quỹ nào có phạm vi rộng như thế, Quỹ Soros kinh doanh trên tất cả các thị trường như ngoại hối, hàng hóa, trái phiếu, và cổ phiếu. Từ lúc bắt đầu hợp tác năm 1970 cho đến khi họ tách rời nhau năm 1980, chưa năm nào Soros và Rogers bị thua lỗ. Dân Wall Street nói về họ có vẻ kính phục. Có vẻ như họ biết rõ hơn ai hết về hướng đi của nền kinh tế.

    Năm 1971, giá trị của Quỹ là 12,5 triệu đôla, một năm sau lên đến 20,1 triệu đôla. Từ 31 tháng 12 năm 1969 đến 31 tháng 12 năm 1980 Quỹ Soros đã tăng 3.365 phần trăm. Ta có thể so sánh với chỉ số kết hợp Standard & Poor, cũng trong khoảng thời gian ấy, nó chỉ tăng 47 phần trăm.

    Vào cuối năm 1980, giá trị của quỹ đã lên đến 381 triệu đôla.

    Vì là một hãng chung vốn tư nhân nên quỹ có một số thuận lợi so với các hãng khác có tính quy ước hơn. Quan trọng nhất là nó có thể bán khống, một việc làm có quá nhiều rủi ro đối với một số nhà đầu tư.

    Người ta xem hình thức bán khống như thế nào?

    Trông ra thì có vẻ là một kỹ thuật không có hại. Nhưng đối với một số người, nó không có tính yêu nước.

    Ai ai cũng chỉ nói: Làm sao mà họ có thể đánh cược là một công ty sẽ làm ăn thua lỗ? Anh là một người Mỹ loại gì? Anh không có lòng tin vào nền kinh tế của đất nước mình hay sao? Anh là giống gì mà cứ muốn khai thác cảnh khốn cùng của người khác?

    Soros không để ý đến những điều ấy. Ông chĩ biết là kỹ thuật này chạy rất tốt, đưa lại nhiều lợi nhuận trên các thị trường Mỹ và ngoại quốc. Quỹ cũng đầu cơ vay nợ qua việc mua cổ phiếu có trả trước tiền bảo chứng. Một lợi thế của Quỹ Soros là nó nhỏ, khống có giấy tờ quan liêu phiền phức, nó có thể ra vào một vị thế chứng khoán dẻ dàng hơn nhiều so với các hãng lớn.

    Soros và Rogers hợp tác với nhau rất an ý. Rogers giải thích: “Thông thường, nếu chúng tôi không đồng ý với nhau thì chúng tôi không làm gì hết." Tuy nhiên không phải là luôn luôn như thế. Nếu một người thấy thích một vụ buôn bán nào đó thì anh ta cứ làm. Rogers nói: “ Khi chúng tôi đã bàn kỹ thì thấy rõ là vụ ấy hoặc đúng hoặc sai. Khi chúng tôi đã suy nghĩ kỹ thì sẽ đi đến một sự nhất trí. Tôi không thích dùng từ ấy, vì đầu tư mà nhất trí thì chỉ đi đến tai họa, nhưng chúng tôi hầu như luôn luôn đi bên nhau.”

    Họ tự hào là có đầu óc độc lập.

    Điều này cuối cùng làm cho họ thất bại. Vì có đầu óc quá độc lập cho nên người này thấy người kia có nhiều điều sai.

    Nhưng vào thời buổi ấy công việc của họ chạy rất trơn tru. Điều mà họ chăm chú tìm là một sự thay đổi bất ngờ trên thị trường chứng khoán, một thay đổi mà chưa ai phát hiện ra để có thể thử nghiệm lý thuyết của ông. Như Rogers nói: “Chúng tôi không quan tâm đến doanh thu của một công ty nào đó trong quí sắp tới hay lượng nhôm vận chuyển trong năm 1975 bằng việc các yếu tố xẫ hội, kinh tế và chính trị chung chung sẽ làm thay đổi vận mệnh của một ngành công nghiệp hay một nhóm cổ phiếu như thế nào. Nếu có những khác biệt lớn giữa những cái mà chúng tôi thấy và giá thị trường của một cổ phiếu thì càng hay, bởỉ vì chúng tôi có thể kiếm tiền ở đấy."

    Khi tìm xem cổ nền kinh tế nào ở nước ngoài sắp có bước nhảy vọt, Soros tìm cách lợi dụng các thị trường chứng khoán ngoại quốc. Nước nào sắp mở cửa thị trường cho đầu tư nước ngoài, nước nào đang có ý định tiến hành những chính sấch ổn định kinh tế, nước nào cam kết cải cách thị trường?

    Soros mong kiếm lợi cho mình bằng cách nhảy vào ở mức tổng quát. Một cộng tác viên cũ của ông nói: “ Là một nhà đầu tư giỏi, ông tìm cách bỏ ra một xu để lấy lại một đồng.” Nếu có những thị trường chưa chín muồi như ở Pháp, Ý và Tây Ban Nha thì Soros nhắm thẳng vào chúng. Ông hy vọng đầu tư trước những người khác từ 6 đến 18 tháng.

    Vì thế, ông mua các chứng khoán Nhật, Canada, Hà Lan và Pháp. Trong một giai đoạn vào năm 1971, một phần tư vốn của Quỹ Soros được đầu tư vào các cổ phiếu Nhật Bản, một canh bạc thắng lợi khi quỹ tăng vốn lên gấp đôi.

    Soros và Rogers lựa chọn các cổ phiếu một cách khôn khéo. Trong một trường hợp vào năm 1972, một người quen cho Soros biết là có một báo cáo riêng của Bộ Thương mại nói đến việc nước Mỹ ngày càng phụ thuộc vào các nguồn nhiên liệu nước ngoài. Nghe theo, Quỹ Sotos mua nhiều cổ phiếu trong các ngành khoan dầu khí, chế tạo thiết bị khai thác dầu khí và các công ty than. Một năm sau, vào năm 1973, có cuộc tẩy chay dầu khí của người A-rập, các cổ phiếu nâng lượng tăng lên cao.

    Năm 1972, Soros và Rogers cũng tiên đoán cuộc khủng hoảng lương thực và sau khi mua các cổ phiếu phân bón, thiết bị nông nghiệp, các công ty chế biến ngũ cốc, họ kiếm được một khoản lời to.

    Vào lúc ấy, Soros và Rogers khôn ngoan xác định là ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ là một nguồn đầu tư có khả năng sinh lợi cao.

    Tháng Mười năm 1973, Israel bị bất ngờ khi các quân đội Ai Cập và Syria tung ra các cuộc tấn công lớn vào nhà nước Do Thái. Trong những ngày đầu của cuộc chiến tranh, Israel lo phòng thủ là chính, chịu hàng nghìn thương vong và mất rất nhiều máy bay và xe tăng. Có dấu hiệu cbo thấy kỹ thuật quân sự của Israel đã lạc hâu. Soros thấy kỹ thuật của Mỹ cũng lạc hậu. Nhận ra rằng các khí tài quân sự của Lầu Năm Góc cũng đã cũ, ông biết rằng muốn hiện đại hóa chúng, người ta phải tiêu rất nhiều tiền.

    Luận điểm này không được phần lớn các nhà đầu tư hưởng ứng. Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc các công ty quốc phòng bị mất rất nhiều tiền nên các nhà phân tích tài chính không muốn nghe nói đến chúng nữa.

    Tuv nhiên, vào đầu năm 1974, Rogers bắt đầu để ý đến ngành công nghiệp này. Tiềm năng của ngành công nghiệp quốc phòng đã động viên Rogers lên đường đi thăm dò. Ông đến Washington nói chuyến với các quan chức Lầu Năm Góc và đi khắp nước Mỹ tim gặp các nhà thầu quốc phòng. Soros và Rogers càng tin chắc là họ đoán đúng - và những người khác đang là một cơ hội lớn.

    Vào giữa năm 1974, George Soros bắt đầu vơ vét các cổ phiếu quốc phòng, ông mua Northrop, United Aircraft, và Grumman. Và dù cho Lockheed có vẻ đang có nguy cơ phá sản nhưng Soros vẫn cược vào công ty ấy, cuối năm 1974, ông đầu tư vào đây.

    Ông và Rogers có được một thông tin rất quan trọng về các công ty này. Tất cả đều có những hợp đồng lớn và khi được ký lại, dễ kiếm được nhiều tiền trong những năm sắp tới.

    Đầu năm 1975, Quỹ Soros bắt đầu đầu tư vào những công ty cung cấp cấc thiết bị chiến tranh điện tử. Không quân Israel bị tổn thất trong cuộc chiến Yom Kippur phần lớn là do thiếu các thiết bị điện tử đối phó tinh xảo để vô hiệu hóa các khí tài do Liên Xô chế tạo đang Trong tay người Ả-rập. Soros và Rogers ghi nhớ điều này.

    Họ cũng ghi nhận rằng chiến trường hiện đại đang thay đổi một cách cơ bản. Một loạt các thiết bị tối tân nay là những cảm biến tối tân nhất và những đạn pháo điều khiển bằng laser cùng những “quả bom thông minh”.

    Và tất cả tốn rất nhiều tiền. Soros và Rogers đã nhìn đúng, kết quả là quỹ của họ kiếm được rất nhiều tiền.

    « * *

    Vào lúc ấy thì bí mật của Soros là gì?

    Ông đã có một giác quan rất phát triến để biết đào ở đâu trong thị trường chứng khoán là tìm ra “vàng". Ai ai cũng đi tìm “vàng" và ai ai cũng có một lý thuyết về nơi tìm ra. Nhưng với ăng ten của mình hướng về phía các biến động của thị trường tài chính, Soros luôn luôn tìm một tín hiệu bí mật cho thấy có một gì đó sắp xảy ra.

    Khi nhận được tín hiệu, ông đi về phía nó, không để lộ cho ai biết vì sao ông đi về hướng này mà không đi về hướng kia, ông thử bản năng của mình trước thực tại của thị trường.

    Ông biết rằng ông đi đúng hướng.

    Việc ông cần làm chỉ là năm này qua năm khác đọc hàng cuối ghi lợi nhuận trên sổ bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào.:rose: