1. Click vào đây để xem chi tiết
  2. Click vào đây để xem chi tiết

12. Trang 213 - 226 @mist (soát xong)

Jul 11, 2017
12. Trang 213 - 226 @mist (soát xong)
  • Thơ BAUDELAIRE
    Thơ có hai phần : một là âm-điệu, hai là tình-tứ. Âm-điệu là phần hình-thức, tình-tứ là phần tinh-thần. Âm-điệu tức là cách dùng chữ xếp vần, cho có âm-hưởng tiết-tấu, để đọc cho êm tai vui miệng. Tiếng mỗi nước một khác thì âm-điệu cũng không giống nhau, nên thi-luật của nước nào là riêng cho nước ấy, không thể chuyển-dịch sang tiếng nước khác được. Đến như tình-tứ thì tức là cảm-hứng. Cảm-hứng thuộc về lòng người, lòng người thì dẫu nước nào, đời nào cũng là một, cũng sướng, cũng khổ, cũng vui, cũng buồn như nhau, cũng đem bấy nhiêu tình-cảm mà thổ-lộ ra lời hát câu ca. Song cảm-hứng có khi sâu, có khi nông, có khi cao, có khi thấp, có khi rộng, có khi hẹp ; trình-độ phạm-vi kể cũng sai biệt nhau lắm. Cùng một tình-cảm mà mỗi người cảm ra một cách, tùy theo tư-tưởng, học-vấn, giáo-dục, kinh-lịch của mỗi người. Bởi thế nên thơ cũng ví như cây đàn trăm giây, gẩy ra nhiều khúc kỳ kỳ lạ lạ, tiếng bổng, tiếng trầm, tiếng khoan, tiếng nhặt, âm hưởng biến-hóa vô cùng.

    Như thơ nôm ta thì âm-điệu liền với tiếng ta, không thể bắt chước tiếng khác mà thay đổi được. Nên muốn sửa lối thơ cũ phải dần dần tùy theo tiếng nói trong nước, không thể một ngày phá được cái khuôn đã dùng từ xưa đến nay. Nhưng đến tình tứ của thơ nôm ta thì có lẽ không được dồi-dào lắm, cảm-hứng không được phong-phú bằng thơ các nước ; tuy không phải là không có cái thú thanh-tao, cái giọng thâm-trầm, nhưng dường như « ngắn hơi » không hô-hấp được mạnh, đọc lên có cái cảm-giác như con chim con chưa bay lên đã mỏi cánh, mong sao mà vượt bể lên ngàn được ?

    Ngày nay muốn cho thơ nôm phát-đạt, chưa cần sửa lại âm-điệu vội, cốt nhất nuôi lấy cảm-hứng trước. Đã có cảm-hứng thì tức tìm được âm-điệu xứng-đáng ; không có cảm-hứng thì dẫu âm-điệu hay, chẳng qua cũng mới là thợ, chưa gọi là thơ được. Ở nước ta hạng « thợ thơ » vẫn có nhiều, mà thi-nhân chân-chính thì ít lắm.

    Làm thế nào gây được những hạng thi-nhân mới cho quốc-âm ta ? Thiết-tưởng không gì bằng giới-thiệu cho biết các thi-gia có tiếng của Âu-châu. nhất là nước Pháp, vì văn-chương Pháp ta có thể trực-tiếp mà thưởng thức được.

    Từ xưa đến nay ta thuần chịu ảnh-hưởng của thơ Tàu, ảnh-hưởng ấy lâu ngày sâu quá làm mất cả đặc-sắc của thơ ta, thành ra lắm khi thơ nôm cũng chỉ là những bức « vẽ phóng » của thơ Tàu mà thôi. Nhưng bấy lâu ta đã bắt chước hình-thể âm-điệu của thơ Tàu rồi, nay thử quay về Âu-tây mà đón lấy cái luồng tư-tưởng, gió cảm-hứng mới. Cảm-hứng của thơ Tây cũng có lắm vẻ li-kỳ tuyệt-thú, xưa nay ta chưa từng được biết bao giờ. Người Tây dùng lời thơ vẽ được hết cảnh-vật trong trời đất, diễn được hết tâm-lý trong người ta. Nếu các nhà thơ ta bắt chước mà gây lấy những mối cảm-hứng mới-mẻ đó để thay vào mấy cái sáo cũ xưa nay, thì thơ nôm mới có cơ tấn-tới được.

    Nay hãy tạm giới-thiệu một thi-nhân nước Pháp về thế kỷ trước : Baudelaire.

    Baudelaire mất năm nay vừa được năm-mươi năm, mới rồi bên Pháp làm lễ kỷ-niệm, nhân đó các báo Tây có bàn về thơ ông nhiều lắm. Theo pháp-luật hiện-hành, bản quyền về tác phẩm của các nhà làm bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào sau khi chết rồi còn giữ được năm-mươi năm nữa, ngoài hạn ấy mới thuộc về của chung, ai muốn in muốn dịch cũng được. Từ nay thơ văn của Baudelaire thành của chung của thiên-hạ, các nhà xuất-bản sẽ đua nhau mà in lại những tác-phẩm của ông, lưu-truyền được rộng. Văn-chương có giá trị, văn-chương thật « bất-hủ » là kể tự cái kỳ-hạn năm-mươi năm này mới có thể định-luận được. Nhà văn nào qua được cái « hạn » này mà hậu-thế còn đọc đến bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào vở mới có thể mong liệt vào hạng « bất-tử » được.

    Baudelaire là một nhà thơ có tài nhất ở nước Pháp về thế-kỷ thứ 19. Kể từ khi tạ-thế đến giờ, thanh-danh mỗi ngày một tăng lên, hiện bây giờ không ai là không đọc đến tên. Tác-phẩm của ông không có mấy : trừ mấy quyển bàn về mỹ-thuật, một bộ dịch đoản-thiên, tiểu-thuyết của văn-hào nước Mỹ Edgar Poe, một tập đề là « Những chốn thiên-đường nhân-tạo » (les Paradis artificiels) tả cái khoái-lạc của nha-phiến, rượu bồ-đào, thuốc Ả-rập (1), toàn là những thứ làm cho mê-mẩn tinh thần, gây nên những cuộc mộng lạ, văn-chương rất là kỳ-diệu, một tập « Thơ vắn bằng tản-văn » (Petits poèmes en prose) cũng kỳ-thú mà khác thường lắm ; trừ bấy nhiêu bộ, duy chỉ có tập thơ đề là « Ác-hoa » (Fleurs du mal), là tuyệt-tác hơn cả. Túng-sử bình-sinh chỉ để lại một tập thơ ấy cũng đủ hưởng vinh-dự đời đời. Tập thơ ấy như luyện như đúc không biết bao nhiêu tư-tưởng kỳ-lạ, phản-chiếu cho ta những chốn thâm-sơn cùng-cốc trong chân-thân mộng-cảnh của người đời. Lắm bài ý-tứ thâm-trầm, lúc mới đầu không mấy người hiểu, cho ông là người hiếu-kỳ, người điên, người cuồng. Nhưng càng đọc càng nghĩ càng thấy thấm-thía, mới biết là bậc thiên-tài, đã từng thông thuộc hết những khóe u-ẩn trong cõi lòng người. Bởi thế nên đọc thơ ông có cái cảm sâu-xa vô-cùng.

    ______________

    (1) Người Ả-rập dùng một thứ cây gai tên là « hà-sích » (haschich) để làm thuốc hút. Thuốc ấy hút vào có tính làm say-mê người như uống rượu mạnh, như hút nha-phiến.

    Ông hoài-bão rất cao-thượng, nhất-sinh chỉ mê cái « tuyệt-phẩm ». Trông thấy những sự xấu-xa ô-uế của người đời, trông thấy những thói đê-tiện hèn-mạt của xã-hội, trong lòng khinh-bỉ mà chán-nản vô-cùng. Như thế thì sống ở đời này chịu sao cho được ? Nên ông coi đời người là một cái nghiệp-báo, không biết lấy gì làm thú nữa. Lại thêm từ thủa trẻ đã khánh-kiệt gia-tài, mang lấy tật-bệnh, cái nợ sống nặng-nề mà đau đớn biết dường nào ! Thân-thế ông là một cuộc thảm-thê vô-cùng. Suốt đời không được một lúc nào sướng, mấy năm cuối cùng lại là những năm khổ hơn nhất. Các thi-nhân khác cũng lắm người khổ-sở nhiều, nhưng thường gặp được chút ái-tình của người tri-kỷ, cũng làm cho nguôi sự phiền-não ở đời. Đến như ông thì ái-tình cũng trắc-trở và gian-nan. Còn cái vinh-dự thì sinh-thời chưa từng được hưởng bao giờ, họa là gặp được mấy bạn tri-âm cảm-phục mà thôi.

    Ông vốn người thảng-thích, không hề đem lòng oán-giận căm-tức bao giờ. Nhưng thơ-văn của ông cực-tả cái cảnh éo-le của mộng-hồn đối với chân cảnh, một trời một vực xa nhau. Các nhà phê-bình Tây thường nói thơ ông đã cống-hiến cho người đời một cái « rùng mình mới lạ » (un frisson nouveau). Cái « rùng mình » ấy chính là sự cảm sâu-xa mà đau-đớn về cái cảnh éo-le rất bi-thảm kia.

    Trong tập thơ « Ác hoa » (Fleurs du mal), phần nhiều bài đề là « Sự Ưu-uất cùng cái Tuyệt-phẩm » (Spleen et Idéal). Cổ-kim dễ chưa có thi-nhân nào có tài tả những sự ghê thảm, uất-ức, bực-tức, u-sầu bằng ông. Ông vốn ham những mĩ-lệ trang-nghiêm, nhưng tả những cảnh ấy ra không phải để cầu lấy sự khoái-lạc cho mình, tả ra chỉ để chứng cho cái sầu-khổ ở đời, tả ra để cho biết rằng ở đời không hề có vậy. Nhưng ông cũng rất ham sự thực nữa, lấy làm của báu nhất ở đời. Bình-sinh đã bỏ hết lòng hi-vọng với đời, nên chỉ nhất-quyết nghĩ sự thực, nói sự thực mà thôi. Không hề lấy văn-chương điêu-trác mà dối đời. Một đời ông đã từng trải đủ mọi cảnh khổ : cảnh nghèo, cảnh ốm, cảnh đói, cảnh rét, cảnh đau-đớn, cảnh bi-thương, cảnh mất người yêu, cảnh bị người lừa, cảnh mong mà không được, cảnh tránh mà phải gặp, bấy nhiêu cái đều đến cùng, đến cực-điểm, mà làm cho héo gan đứt ruột. Bấy nhiên nông-nỗi ông chịu khổ thế nào, ông nói ra như vậy : bởi thế nên lời thơ của ông bi-đát vô-cùng.

    Ông lại là bậc thiên-tài, nên đã tìm được những giọng tuyệt-diệu trong tiếng Pháp để diễn cái cảm lạ, cái thú kỳ, cái mộng ghê, cái nhớ thảm ấy. Vả xưa nay tình-tứ lạ với lời thơ hay vẫn là do một nguồn mà ra vậy.

    Các nhà phê-bình bàn về thơ ông thật nhiều, vì nhiều người thâm-phục tài ông, Nhưng chưa ai khám-phá được cái bí-quyết của văn-chương ông. Thơ ông là thơ tuyệt-diệu, mà lại có cái đặc-sắc không lẫn với thơ người khác được. Thơ vừa có tính-cách như « vẽ », vừa có tính-cách như « đàn », nghĩa là đọc lên không những vui tai như tiếng đàn hay, mà lại hình như trông thấy cảnh hiển-hiện ra trước mắt như bức tranh đẹp nữa.

    Một thi-nhân như thế là một nhân-vật chung của cả thế-giới, không phải riêng của một nước nữa. Vì cái đầu bài trong văn-chương người ấy cũng chỉ có một không hai : là thân-thế con người ta, là cảnh khổ ở đời này. Thân-thế ấy, cảnh khổ này, người ấy đã giãi bày ra cho ta một cách thảm-thiết thâm-trầm. Dẫu người đời nào, người nước nào đọc những câu thơ ấy cũng hình như vẳng nghe tiếng đồng-vọng ở trong lòng vậy.

    *
    * *​

    Sau này lục mấy bài thơ của Baudelaire dịch nôm na ra quốc-ngữ, để phụ vào lời giới-thiệu ở trên.

    Một bài đề là « U-uất » (Spleen)

    Quand le ciel bas et lourd pèse comme un couvercle

    Sur l'esprit gémissant en proie aux longs ennuis,

    Et que de l'horizon embrassant tout le cercle

    Il nous verse un jour noir plus triste que les nuits;


    Quand la terre est changée en un cachot humide,

    Où l'Espérance comme une chauve-souris,

    S'en va battant les murs de son aile timide.

    Et se cognant la tête à des plafonds pourris ;


    Quand la pluie étalant ses immenses traînées

    D'une vaste prison imite les barreaux,

    Et qu'un peuple muet d'infâmes araignées

    Vient tendre ses filets au fond de nos cerveaux ;


    Des cloches tout à coup sautent avec furie

    Et lancent vers le ciel un affreux hurlement,

    Ainsi que des esprits errants et sans patrie

    Qui se mettent à geindre opiniâtrement.


    -- Et de longs corbillards sans tambours ni musique

    Défilent lentement dans mon âme ; l’Espoir,

    Vaincu, pleure, et l'Angoisse atroce, despotique,

    Sur mon crâne incliné plante son drapeau noir.

    Dịch nghĩa :

    « Những khi trong lòng ai-oán buồn-bực không dứt, trời thấp nặng chình-chịch như cái vung, bao-lung cả chân mây góc bể mà trút xuống cho ta một cái ngày tối thẳm hơn là đêm ;

    « Những khi mặt đất biến thành ngục tối, để giam cái thần Hi-vọng ở trong, khác nào như con giơi bay trong nhà hoang đập cánh vào tường ẩm, đâm đầu vào trần mục ;

    « Những khi mưa trút nước xuống tựa-hồ như đặt dông sắt vào cái nhà tù lớn, mà trong tâm-não ta thì hình như có vô-số những con nhện xú-uế đến chăng giây mắc mạng ;

    « Những khi ấy, tiếng chuông tiếng trống ở đâu bỗng nổi lên đùng-đùng, tung lên trời những tiếng kêu gầm thét, như một lũ oan-hồn chưa thác đồng-thanh mà rền-rĩ thiết-tha.

    « -- Bấy giờ tôi tưởng như trong hồn tôi đương trẩy lũ-lượt những đám ma, không kèn không trống, lẳng-lặng mà đi. Thần Hi-vọng bị thất-bại khóc dưng-dức, thần Sầu khổ được đắc-thắng ra tay tàn-ác dầm đầu tôi xuống mà chôn lá cờ đen vào trong óc ».

    Lời thơ kỳ thay ! Họp những câu tỉ-dụ rất ghê rất thảm mà hình dung ra cái « U-sầu » ở trong lòng, nó nhấm gan đục óc người ta ; thật là một giọng thơ quái-lạ.

    -- Một bài đề là « Chuộc mình » (La Rançon) :

    L'homme a, pour payer sa rançon,

    Deux champs au tuf profond et riche,

    Qu'il faut qu'il remue et défriche

    Avec le fer de la raison :


    Pour obtenir la moindre rose,

    Pour extorquer quelques épis,

    Des pleurs salés de son front gris

    Sans cesse il faut qu'il les arrose.


    L'un est l’Art et l'autre l'Amour,

    -- Pour rendre le juge propice,

    Lorsque de la stricte justice

    Paraitra le terrible jour,


    Il faudra lui montrer des granges

    Pleines de moissons, et des fleurs

    Dont les formes et les couleurs

    Gagnent te suffrage des Anges.

    « Trời đã cho người ta để lấy mà chuộc mình, hai cánh đồng đất sâu và tốt, phải bừa phải sới, bằng cái cày, cái cuốc của linh-tính ;

    « Muốn cho mọc được một bông hồng nhỏ, muốn cho nẩy được mấy bông lúa sơ, phải lấy mồ-hôi nước mắt trên trán đen mà tẩm tưới không dời.

    « Một cánh đồng là Mĩ-thuật, một cánh đồng là Ái-tình. -- Muốn cho đến ngày ghê-gớm là ngày « xử án » sau cùng, được vừa lòng Thượng-đế.

    « Thì bấy giờ phải có những lẫm thóc đầy, những cụm hoa nở, hình đẹp sắc tươi, để đẹp mắt ưng lòng các vị thiên-thần ngồi thẩm-phán. »

    Bài thơ này ý-nghĩa cũng thâm-trầm lắm. Ý nói rằng người ta sống ở đời như để làm trọn một cái nghiệp-báo, không phải có sung sướng gì.

    Muốn cho trọn nghiệp-báo ấy, chỉ nên thờ cái « Đẹp » ở trong trí, nuôi cái « Yêu » ở trong lòng, có thế thì ngõ-hầu mới mong chuộc được mình trong cõi sầu-khổ này.

    Một bài đề là « Bình-tĩnh » (Recueillement) :

    Sois sage, ô ma Douleur, et tiens-toi plus tranquille,

    Tu réclamais le soir ; il descend ; le voici :

    Une atmosphère obscure enveloppe la ville,

    Aux uns portant la paix, aux autres le souci.


    Pendant que des mortels la multitude vile,

    Sous le fouet du Plaisir, ce bourreau sans merci,

    Va cueillir des remords dans la fête servile,

    Ma douleur, donne-moi la main ; viens par ici,


    Loin d'eux. Vois se pencher les défuntes Années,

    Sur les balcons du ciel, en robes surannées ;

    Surgir du fond des eaux le Regret souriant ;


    Le soleil moribond s'endormir sous une arche,

    Et comme un long linceul trainant à l'Orient,

    Entends, ma chère, entends la douce Nuit qui marche.

    Dịch nghĩa :

    « Hỡi bạn đau-đớn của ta ơi ! nên lẳng-lặng mà chớ băn-khoăn. Mình muốn cho chiều tối : chiều đã đến, tối đây này. Khi tối bao-bọc nơi thành-thị, khiến cho kẻ này được bằng dạ, kẻ kia phải rối lòng.

    « Trong khi lũ người đời hèn-mạt bị cái thần khoái-lạc tàn-ác nó thúc nó giục, xô nhau vào chốn ăn chơi đê-tiện để chuốc lấy cái ăn-năn ở trong lòng, hỡi bạn Đau-đớn của ta ơi ! mình đưa tay ta dắt, lại đây với ta.

    « Xa lũ chúng nó. Mình trông lên chốn bao-lơn trên trời kia, thấy những thần năm xưa tháng cũ, còn mặc áo cựu-thời, cúi nhìn xuống với ta ; mình trông ở nơi đây nước kia, cái thần Thương-tiếc mỉm cười với ta ;

    « Mình trông vầng mặt trời tàn sắp lặn dưới bóng hào quang. Mình nghe, hỡi mình ơi ! mình nghe thần Đêm đương lẳng-lặng đi, như kéo về miền Đông một tấm dạ phủ quan dài ».

    Từ xưa đến nay những bậc đại-thi-nhân vẫn lấy cái Đau-đớn làm bạn, mà dễ ở đời không có bạn nào thủy chung bằng bạn ấy. Phàm người đã mang tấm lòng cao-thượng mới biết bạn ấy là quí. Những khi bóng chiều đã xế, cảnh-vật thê-lương, cái sầu vô-hạn chan-chứa trong lòng, trông thấy lũ người đời vô-tri vô-giác xô đẩy nhau vào chốn ăn-chơi, bấy giờ muốn ôm muốn cầm, muốn bồng muốn bế lấy cái bạn đau-đớn kia mà cùng nhau nguyện-ước trăm năm cho cam cái thân bất-tục ở đời !

    (1917)
    :rose: