21 chương 21 - Lemontree123 - Done

10/11/15
21 chương 21 - Lemontree123 - Done
  • CHƯƠNG 21


    ÔNG VUA CỦA NHỮNG QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM

    Chứng cớ rõ ràng nhất về sự thành công của các quỹ đầu tư mạo hiểm là trên tờ Financial World, trang danh bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào những người kiếm được nhiều tiền nhất trong năm 1993. Khoảng một nửa những người trên danh bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào ấy hoặc quản lý hoặc làm việc cho những quỹ đầu tư mạo hiểm.

    Những người quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm chiếm năm hàng đầu, và George Soros là người đứng đầu danh bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào với thu nhập 1,1 tỷ đôla, người Mỹ đầu tiên kiếm được trên 1 tỷ đôla một năm. Những nhà quản lý này chiếm 8 trong số 10 vị trí cao nhất và cả thảy là 46 người trong số 100 của danh bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào. Số 4 là Druckenmiller với 210 triệu đôla. Trong số 100 người trên danh bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào, có 9 người làm việc cho Quỹ Soros.

    Năm 1994, Quỹ Soros quản lý trên 11 tỷ đôla.

    Wall Street luôn luôn nằm trong tay những người có thể thực hiện những việc khác thường, những người biết rõ hơn người khác cách hoạt động của nền tài chính cao cấp. Đã có thời đấy là một Morgan hay một Stanley, một Gould hay một Baruch. Trong đầu thập niên 1990, đấy là George Soros và những nhà vô địch của quỹ đầu tư mạo hiểm.

    Theo James Grant, tổng biên tập tờ Grant’s Interest Rate Observer ở New York, những con người khổng lồ ấy của Wall Street thường có ít quyền lực về tài chính hơn là được gán cho họ, nhưng Wall Street vẫn thích tin là một người nào đó hay một tổ chức nào đó có thể điều khiển mọi việc, có thể thực hiện những chuyện phi thường.

    Grant quan sát “Tôi xem Soros là một trong những con người ấy, nửa huyền bí, nửa thật. Người ta phải chiếu các lo toan, các giận hờn và các thèm muốn của mình lên một cái gì sống động. Họ muốn nghĩ rằng có một ai đang làm cho thị trường hoạt động. Họ không thể tin rằng cung và cầu thật sự làm những điều ấy, và các thị trường có tính đến các sự kiện tương lai. Họ muốn tin là có một Soros.

    “Trong một thị trường xuống giá, người ấy có thể là người thua lỗ, nhưng trong mọi trường hợp tôi cho rằng người ta thích tin là có người nào đấy đã thành công, có người nào đấy có trách nhiệm, có người nào đấy mà họ có thể gọi điện thoại đến, có người nào đấy họ có thể bị gọi ra hầu tòa.

    “Tôi nghĩ rằng ngày nay các quỹ đầu tư mạo hiểm chính là “họ”. Chữ “họ” mà người ta ngày nay hay nói đến là các quỹ đầu tư mạo hiểm. Họ chuyển dịch những khối tiền to lớn với tốc độ ánh sáng. Họ làm vậy một cách táo bạo - và cho đến gần đây thu được những thành công rực rỡ. George Soros, Julian Robertson, Leon Cooperman, và Paul Tudor Jones, những người cùng loại ấy, gộp chung cả lại, họ là “họ.”’

    • • •​

    Trở thành một người trong “họ" có dễ không? Tham gia vào một quỹ đầu tư mạo hiểm có dễ không? Không phải là dễ đâu. Đối với nhiều nhà đầu tư, cùng không khôn ngoan lắm vì các quỹ đầu tư mạo hiểm có chứa nhiều rủi ro và phải có rất nhiều tiền.

    Trên giả thuyết là chỉ những người giàu có là có thể chịu những rủi ro ấy, ủy ban Giao dịch Chứng khoán bắt buộc những nhà đầu tư vào các quỹ đầu tư mạo hiểm Mỹ phải hoặc bỏ vào một số tiền 1 triệu đôla hoặc phải trong hai năm liên tiếp có thu nhập tối thiểu 200.000 đôla, đối với một cặp vợ chồng phải là 300.000 đôla. Quỹ Quantum của Soros không định tiền tối thiểu để gia nhập, những những người mua phải trả một khoản lệ phí khá cao để tham gia.
    Có một chuyện hoang đường là các quỹ đầu tư mạo hiểm là hoàn toàn không được điều tiết. Luật SEC Act năm 1934 bắt các nhà quản lý những quỹ lớn hơn 100 triệu đôla phải khai các thông tin cho cơ quan điều tiết. Và tất cả các nhà quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm cũng phải tuân theo các luật pháp chống gian lận. Tuy nhiên, một quỹ đầu tư mạo hiểm có thể tránh phải đăng ký như một công ty đầu tư, bằng cách hạn chế số các nhà đầu tư xuống dưới 100 và đưa ra các sản phẩm của mình như những khoản bỏ vốn riêng.
    Một khác biệt lớn giữa các quỹ đầu tư đặt ở nước ngoài của Soros và các quỹ đầu tư mạo hiểm của Mỹ có liên quan đến thuế. Các cổ đông của những quỹ đặt ở nước ngoài không phải trả thuế lợi tức nếu đa số cổ đông không phải dân Mỹ. Trong một vài trường hợp, công dân Mỹ có thể đầu tư vào các quỹ đặt ở nước ngoài nhưng họ không được hưởng quy chế ưu đãi về thuế. Tuy nhiên, vì các quỹ đầu tư mạo hiểm thu nhiều rủi ro cho nên phần lớn các quỹ đặt ở nước ngoài cấm, hoặc ít ra cũng không khuyến khích, các nhà đầu tư người Mỹ.
    Đối với George Soros, một công dân Mỹ từ năm 1961, ông tìm cách trở thành một ngoại lệ đối với các thủ tục ấy. Dù là người Mỹ, nhưng ông vẫn được tham gia vào các quỹ đặt ở nước ngoài của mình. Phần lớn những nhà đầu tư của Soros đều là người Âu châu. Với những rủi ro như thế nhưng các quỹ đầu tư mạo hiểm cũng có một số hấp dẫn. Lẽ tất nhiên, một hấp dẫn ấy, là vinh dự được là thành viên của một câu lạc bộ có đặc quyền.

    Nhưng sự hấp dẫn mạnh nhất là khả năng kiếm lợi nhiều. Vì phần lớn các nhà đầu tư vào quỹ đầu tư mạo hiểm phải để tiền trong quỹ trong một thời gian dài cho nên họ thường tái đầu tư các lợi nhuận của họ. Vì vậy, lợi tức lại càng chồng chất cao.
    Các nhà quản lý tiền tệ truyền thống - những người điều khiển các quỹ tương hỗ hay quỹ hưu trí - đều tỏ ra càng bảo thủ càng hay. Họ dùng một số hạn chế các kỹ thuật tài chính, hy vọng là có lãi ít nhưng đều đặn. Các nhà quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm, vì không bị tính bảo thủ kiềm chế, nên thường sử dụng những kỹ thuật khác, mang nhiều rủi ro hơn, kỹ thuật nổi trội nhất là kỹ thuật đòn bẫy, hay đầu tư dùng tiền đi vay. Một nhà quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm hàng đầu ở Wall Street, muốn dấu tên, đã mô tả những sự tàn nhẫn khi sử dụng triệt để phương pháp đòn bẩy.

    “Việc này làm cho ruột người ta quặn đau, đau lắm. Anh phải có khả năng đặc biệt mới thực hiện những đòn bẩy như George Soros và Michael Steinhardt làm. Phải có một tâm địa đặc biệt, có tin tưởng vào khả năng của mình để theo dõi vụ việc, vì chỉ cần một chút dao động ngược lại điều anh mong muốn là có thể gây ra những hậu quả to lớn. Giá đồng đôla so với đồng yen thay đổi 4 đến 5 phần trăm một ngày (trong tháng Hai 1994). Soros lúc ấy bị mất 600 triệu đôla. Chúng ta sống trong một thế giới mà dao động 4 đến 5 phần trăm -không phải là hiếm thấy, chỉ cần Dự trữ Liên bang tăng lãi suất lên một phần tư điểm là chỉ số Dow Jones giảm 97 điểm. Phải có lòng say mê chấp nhận rủi ro. Phải tiến hành một cách thông minh.

    “George Soros là một người hay chơi đòn bẩy. Cứ tưởng tượng mà xem, phải vững vàng trong bụng, phải tin chắc vào cú đánh cược của mình, phải có một sức mạnh tài chính cơ bản. Anh phải chắc chắn là anh chơi đòn bẩy thắng lợi.”

    Cũng nhà quản lý giấu tên của quỹ đầu tư mạo hiểm ấy đặt các kỹ thuật đòn bẩy và bán khống vào thì tương lai. Ông nhận xét rằng, Benjamin Graham, người sáng lập ra ngành phân tích chứng khoán, có nói rằng các cổ phiếu có một “giá trị nội tại.”

    Thật vậy, giá trị nội tại là giá trị của một chứng khoán trong những điều kiện nào đó, có tính đến các lãi suất, hiện trạng của nền kinh tế, và lợi nhuận của công ty. “Công việc của nhà phân tích hay của nhà quản lý tiền tệ là xác định được chứng khoán nào cao hơn giá trị nội tại. Cho nên một nhà đầu tư truyền thống sẽ bán chứng khoán ấy trong khi một quỹ đầu tư mạo hiểm lại có thể bán khống nó, và khi chứng khoán xuống dưới giá trị nội tại của nó, khi nó bị mất giá, thì nhà đầu tư sẽ mua. Điểm khác biệt giữa nhà đầu tư truyền thống và nhà đầu tư mạo hiểm là người thứ nhất thì dùng tiền mặt mua nó còn người thứ hai thì mua bằng đòn bẩy và có trên 100 phần trăm được đầu tư.”

    Và danh bet365 việt nam_tỷ số trực tuyến bet365_bet365 như thế nào các kỹ thuật còn dài hơn nữa. Quỹ đầu tư mạo hiểm không những chỉ đầu cơ cả giá cao và bán khống mà còn sử dụng cả các quyền chọn mua và bán, các hợp đồng tương lai và những chứng khoán phái sinh khác - bất kể những gì mà thị trường đòi hỏi. Họ cũng lấy những vị thế rất tập trung. Họ buôn bán thường xuyên hơn là các quỹ truyền thống: Trong năm 1988, Soros quay vòng 18 lần danh mục của mình, năm 1992, ông quay vòng 8 lần. Và các quỹ đầu tư mạo hiểm còn cho phép nhà đầu tư có cơ hội lấy vị thế trong bất kỳ thị trường tài chính nào trên thế giới - khác hẳn với các nhà quản lý quỹ truyền thống, chỉ dựa vào sự thành thạo của mình trong một lĩnh vực hay một thị trường độc nhất.

    Các nhà quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm có nhiều động lực thúc đẩy mình sử dụng các công cụ ấy để kiếm lãi. Bất kể là tài sản quỹ của họ thay đổi như thế nào, các nhà quản lý truyền thống đều nhận được tiền công khoảng 1 phần trăm tài sản. Do đó, họ không có động cơ cá nhân bắt buộc họ phải hành động theo chiều hướng tấn công. Ngược lại, các nhà quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm thì thường được nhận 20 phần trăm của lợi nhuận của quỹ. Họ có tất cả các lý do trên đời để tạo ra doanh lợi.

    Năm 1994, sức mạnh của các quỹ đầu tư mạo hiểm đã tăng lên đến mức mà các nhà chính trị bắt đầu bàn đến sự cần thiết phải có sự điều tiết mới. Người ta sợ rằng các nhà điều khiển quỹ đầu tư mạo hiểm có đủ sức tác động xấu lên thị trường tài chính vì họ đã tung vào hệ thống một số tiền khổng lồ. Khi thị trường trái phiếu bị thua lỗ vào đầu năm 1994, các nhà chính trị lại càng tin là các quỹ đầu tư mạo hiểm đứng đằng sau thảm trạng ấy. Các nhà quản lý quỹ mạo hiểm phản đối cách nhìn này, họ biện luận rằng các vị thế của họ còn nhỏ hơn nhiều so với các vị thế của các ngân hàng đầu tư hay thương mại.

    Còn về phần George Soros thì lập trường của ông đối với việc điều tiết cũng thật trái ngược.

    Ông có tất cả các lý do để phản đối việc điều tiết. Nhưng khi không có điều tiết thì ông đã kiếm được một đống tiền. Soros muốn được gọi là một chuyên gia của hiện tượng bất ổn định, một người đã sống nhờ vào trạng thái hỗn loạn của thị trường tài chính. Thế tại sao ông lại muốn có điều tiết? Vì ông muốn có một hệ thống ngân hàng tập trung cho cộng đồng tài chính quốc tế.

    Đấy chính là nghịch lý. “Tôi không ngần ngại đầu cơ trên các thị trường tiền tệ - mặc dù tôi nói là các thị trường tiền tệ cần phải được bình ổn,” ông phát biểu như vậy. “Chúng ta phải có phân biệt giữa người tham gia thị trường và người công dân. Là người tham gia, anh phải theo luật lệ. Là công dân, anh có trách nhiệm tìm cách thay đổi hệ thống nếu thấy nó sai.”

    Trong khi ấy, thì có vẻ như các quỹ đầu tư mạo hiểm vẫn tiếp tục hoạt động không có điều tiết, Năm 1992, SEC cho công bố một bản báo cáo 500 trang về các quỹ đầu tư mạo hiểm. Đấy là lúc mà người ta nghi ngờ là ba quỹ mạo hiểm lớn, trong đó có Quantum, đã mua rất nhiều trái phiếu của Ngân khố Hoa Kỳ trong những cuộc đấu giá mà công ty Salomon Brothers ở New York bị kết tội là ép giá thị trường. Các nhà điều tra của chính phủ sau đó đã minh oan cho cả ba quỹ. Báo cáo của SEC kết luận rằng, các quỹ đầu tư mạo hiểm không cần có điều tiết chặt chẽ.